- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b Khoản 1, Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2025/HS-ST Ngày 10 tháng 9 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đình Hiệp
2. Ông Chu Văn Hùng
Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Chính – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/HSST ngày 13/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST - HS ngày 27/8/2025 đối với bị cáo:
Họ tên: NGÔ VĂN L, Tên gọi khác: Không, sinh ngày 23/8/1983. Nơi cư trú: Xóm Cà Phê, xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ (Nay là xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên). Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn T (Đã chết), Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; Vợ: Võ Thị Lệ T, sinh năm 1991; Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án: 04.
+ Bản án số 04/2016/HSST ngày 10/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Giá trị tài sản 3.305.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2017. Phần án phí và Phần tịch thu sung quỹ nhà nước ½ giá trị tài sản là xe máy của Ngô Văn L và vợ đã thi hành xong ngày 11/5/2016.
+ Bản án số 326/2018/HSST ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Giá trị tài sản 8.900.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2019. Phần án phí bị cáo được miễn án phí sơ thẩm.
+ Bản án số 14/2021/HSST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản". (Giá trị tài sản 900.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2022. Phần AP HSST; DSST chấp hành xong ngày 29/3/2021. Phần bồi thường dân sự cho bị hại, L chưa thi hành
+ Bản án số 09/2023/HSST ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản". (Giá trị tài sản 490.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 29/02/2024. Chấp hành xong khoản án phí 200.000 đồng ngày 18/7/2023.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 136a/QĐ-XPHC ngày 05/5/2010 của Uỷ ban nhân dân xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 150.000 VNĐ về hành vi “Trộm cắp vặt”. Chấp hành xong ngày 05/7/2010;
+Tại bản án số 08/2011/HSST ngày 16/3/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (Giá trị tài sản 10.700.000 đồng); Chấp hành xong án phí ngày 08/7/2011.
+ Tại bản án số 59/2011/HSST ngày 25/7/2011 của TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Giá trị tài sản 711.000 đồng). Tổng hợp với Bản án số 08/2011/HSST ngày 16/3/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/10/2012. Chấp hành xong án phí 200.000 đồng, tịch T 235.000 đồng ngày 20/2/2012.
+ Quyết định Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 94/QĐ-UBND ngày 21/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Thời hạn 01 năm từ ngày 21/4/2025.
+ Tại Quyết định xử phạt hành chính số 119 ngày 06/8/2025 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên xử phạt Ngô Văn L số tiền 1.250.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh Thái Nguyên. (Bị bắt tạm giam ngày 07/6/2025 đến nay), (Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Công ty cổ phần dịch vụ thương mại tổng hợp WINCOMMERCE
Địa chỉ: số 23 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị P chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1994 cửa hàng trưởng cửa hàng Winmart số 84, đường Bắc Sơn, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Lệ T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Xóm Cà Phê, xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, nay là xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người làm chứng: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1997 (vắng mătj)
Địa chỉ: xóm Ngọc Lâm, xã Linh Sơn nay là phường Linh Sơn, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn L là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy cho bản thân.
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/6/2025, L một mình điều khiển xe môtô Honda Wave Alphal, BKS: 20AK- 015.04 (Đăng ký xe mang tên Ngô Văn L) đi từ nhà riêng đến cửa hàng Winmart+ (Cửa hàng Tộc Công ty Cổ phần dịch vụ thương mại tổng hợp WINCOMERCE), địa chỉ ở số nhà 84, đường Bắc Sơn Tộc tổ 11, phường Hoàng Văn Thụ, nay là phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên với mục đích trộm cắp tài sản bán lấy tiền để mua ma túy. Đến nơi, L để xe môtô ở bên ngoài, không rút chìa khóa xe mục đích để tẩu thoát nhanh hơn và đi vào trong cửa hàng như người mua hàng bình thường. Lợi dụng khi nhân viên cửa hàng và những người khác không để ý, L đã dùng tay phải lấy trộm 01 (một) hộp cafe hòa tan loại G7, 288 gam giấu vào sau lưng trong lớp áo ngoài L đang mặc; 02 (hai) chai dầu ăn nhãn hiệu Simply loại 01 (một) lít giấu vào sau lưng trong cạp quần L đang mặc. Sau đó L cầm 01 (một) bó rau muống mang ra bàn T ngân mục đích T toán tiền mua bó rau muống để tránh bị nghi ngờ và ra khỏi cửa hàng. Tuy nhiên, hành vi lấy trộm tài sản của L đã bị chị Nguyễn Thị L và Phạm Thị T đều là nhân viên bán hàng của cửa hàng Winmart+ nhìn thấy qua hệ thống camera giám sát của cửa hàng. Chị L và chị T đã chốt cửa, gọi nhân viên an ninh cửa hàng để xử lý L về hành vi trộm cắp tài sản. Thấy vậy, L đã tự giác bỏ lại những đồ đã lấy và xin được bỏ qua, khi đó có người khách trong cửa hàng mở cửa đi về nên L đã đẩy nhân viên cửa hàng và bỏ chạy ra ngoài. tuy nhiên khi chạy ra ngoài sân, leo lên xe mô tô thì L bị chị L, chị T truy đuổi. Quá trình bỏ chạy, L có cầm mũ bảo hiểm giơ lên để dọa đánh, dùng chân đạp về phía chị T, chị L nhưng không trúng. Sau đó L bị người đi đường khống chế giữ lại, chị Nguyễn Thị L đã trình báo Công an phường Hoàng Văn Thụ để giải quyết theo quy định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 73/KL – HĐĐGTS ngày 11/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên, kết luận: 01 (một) hộp cafe hòa tan loại G7 có khối lượng 288 gam và 02 (hai) chai dầu ăn nhãn hiệu Simply có thể tích 01 (một) lít có giá trị 207.700 VNĐ (Hai trăm linh bảy nghìn bảy trăm đồng).
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 07/6/2025 đối với Ngô Văn L tại Công an phường Hoàng Văn Thụ nay là phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên, thể hiện: Ngô Văn L dương tính với ma túy Heroin. Công an phường Phan Đình Phùng tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Luyên.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai nhận của L phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng T giữ, dữ liệu Camera, cùng các tài liệu chứng cứ khác T thập được trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 USB chứa nội dung dữ liệu video liên quan nội dung vụ án, được niêm phong chuyển theo hồ sơ vụ án.
- 01 (một) hộp cafe hòa tan loại G7 có khối lượng 288 gam, 02 (hai) chai dầu ăn nhãn hiệu Simply có thể tích 01 (một) lít. Hiện đã trả cho chị Nguyễn Thị L là Cửa hàng trưởng cửa hàng Winmart+ số 84, đường Bắc Sơn quản lý, sử dụng.
- 01 Xe moto Honda Wave, BKS: 20AK-015.04 màu xám, số khung: RLHJA3931SY701585, số máy: JA70E0762037, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần dịch vụ thương mại tổng hợp WINCOMMERCE chị Nguyễn Thị L, không có yêu cầu bồi thường gì. Phần dân sự đã giải quyết xong.
Bản cáo trạng số 43/CT- VKSPB, ngày 12/8/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Ngô Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn L từ 18 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung dữ liệu video liên quan nội dung vụ án.
- Trả lại cho chị Võ Thị Lệ T 01 Xe moto Honda Wave, BKS: 20AK-015.04 màu xám, số khung: RLHJA3931SY701585, số máy: JA70E0762037, đã qua sử dụng;
Về trách nhiệm dân sự: chị L không yêu cầu.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm xung quỹ Nhà nước.
Thông báo cho bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các vật chứng khác có trong hồ sơ của vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 18 giờ 36 phút ngày 06/6/2025, tại cửa hàng Winmart+ (Tộc Công ty Cổ phần dịch vụ thương mại tổng hợp WINCOMERCE), địa chỉ ở số nhà 84, đường Bắc Sơn Tộc tổ 11, phường Hoàng Văn Thụ, nay là phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên, Ngô Văn L là đối tượng đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích đã lấy trộm 01 (một) hộp cafe hòa tan loại G7 có khối lượng 288 gam và 02 (hai) chai dầu ăn nhãn hiệu Simply có thể tích 01 (một) lít có tổng giá trị 207.700 VNĐ. Sau đó L bị nhân viên cửa hàng phát hiện, L đã để lại tài sản và bỏ chạy nhưng bị nhân viên cửa hàng và người dân đi đường bắt giữ và trình báo Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.
Hành vi của Ngô Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản.
Cáo trạng của Viện kiểm sát khu vực 1 – Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Nội dung khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác tri ̣ giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng Tộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, .....;
b, Đã bị kết án về tội này...., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an tại địa phương nên hành vi này phải xét xử nghiêm bằng pháp luật hình sự.
. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo Ngô Văn L đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn L bản thân trở thành người lương thiện mà tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, do đó khi lượng hình cần có một mức án nghiêm khắc, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện và để răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Vì vậy khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng đã xem xét giảm một phần hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan kH của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, T nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra để giải quyết vì bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không đề nghị yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.
. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung dữ liệu video liên quan nội dung vụ án.
- Đối với 01 Xe moto Honda Wave, BKS: 20AK-015.04 màu xám, số khung: RLHJA3931SY701585, số máy: JA70E0762037, đăng ký mang tên Ngô Văn L. Hồ sơ thể hiện, chị T và anh L là vợ cH, chiếc xe moto này mua trả góp bằng nguồn tiền lương đi làm của chị T, hiện vẫn chưa trả xong. Chị T mua mục đích để cho L đi làm, việc L sử dụng xe vào mục đích trộm cắp chị T không biết, chiếc xe là tài sản di chuyển duy nhất trong gia đình, vì vậy HĐXX trả lại chiếc xe cho chị T quản lý và sử dụng.
. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Văn L phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Điểm b Khoản 1, Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Ngô Văn L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/6/2025.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
Phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra vấn đề giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung dữ liệu video liên quan nội dung vụ án.
- Trả lại cho chị T: 01 Xe moto nhãn hiệu Honda; số loại Wave; Màu sơn: xám; BKS: 20AK-015.04; số khung: RLHJA3931SY701585, số máy: JA70E0762037, dung tích xi lanh: 109.2 cm3, tình trạng đã qua sử dụng xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ Tật theo đăng ký xe.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo (Ngô Văn L) có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện theo ủy quyền của bị hại (chị Nguyễn Thị L), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Võ Thị Lệ T) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND khu vực 1 – Thái Nguyên; - CA tỉnh Thái Nguyên; - Trại tạm giam số 1 - CA tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo, đại diện theo ủy quyền bị hại; NCQLNVLQ. - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Minh Huệ |