- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Ngọc Anh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Đinh Ngọc Anh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2025/HS-PT Ngày: 09/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Long
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Ông Bùi Trọng Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo Đinh Ngọc Anh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Bị cáo kháng cáo: Đinh Ngọc Anh T; sinh ngày: 25/11/2002 tại Đà Nẵng. Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Tổ A phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Ngọc T1 (còn sống) và bà Nguyễn Anh B (còn sống); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 17/9/2024 đến ngày 24/9/2024, Đinh Ngọc Anh T đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn TP.Đà Nẵng, cụ thể:
Vụ 1: Khoảng 07 giờ ngày 17/9/2024, T đi đến địa chỉ số A đường N, P . H, Q . C, TP.Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu đen-đỏ, BKS: 43G1-305.73 (không rút chìa khóa) của chị Võ Thị Ngọc A1 (SN: 1983; trú: Số E đường T, tổ D, P . H, Q . C, TP.Đà Nẵng). Lợi dụng việc không có người trông coi tài sản, T trộm xe mô tô này rồi điều khiển đến quán I (địa chỉ: Số B đường N, Q . N, TP.Đà Nẵng) và đăng bài bán xe lên trang Facebook “Mua bán xe máy cũ Đà Nẵng”. Đến ngày 18/9/2024, T bán xe mô tô BKS: 43G1-305.73 cho anh Hồ Quốc V (SN: 1989; trú: X.B, H.Thăng Bình, T.Quảng Nam) với giá 2.800.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Khi bán xe, T nói với anh V là xe bị mất giấy tờ và cam kết chính chủ, không tranh chấp.
Vụ 2: Vào khoảng 17 giờ ngày 19/9/2024, T đến cửa hàng điện thoại tại địa chỉ số I đường L, P . M, Q.N, TP.Đà Nẵng do anh Trần Công C (SN: 1996; trú: Số I đường L, P . M, Q.N, TP.Đà Nẵng) làm chủ để bán 01 điện thoại Samsung của T (T đã mua từ cửa hàng này trước đó). Khi đến cửa hàng, T giao dịch với chị Trần Thị T2 (SN: 2004; trú: Số I đường L, P . M, Q.N, TP.Đà Nẵng) và chị Đỗ Thị Minh T3 (SN: 1995; trú: Số I L, P . M, Q.N, TP.Đà Nẵng). Trong lúc nói chuyện, T hỏi mua điện thoại khác và được chị T3 đưa cho xem 01 điện thoại di động loại Iphone Xr, màu vàng với giá 5.000.000 đồng. Lợi dụng lúc chị T2, chị T3 đang bán hàng cho người khác, T lén lút lấy điện thoại Iphone Xr bỏ vào túi quần và mang đến cửa hàng điện thoại Thịnh P (địa chỉ: Số B đường T, P . H, Q . L, TP.Đà Nẵng) bán cho anh Đặng Ngọc P1 (SN: 1997, trú: Số B đường T, P . H, Q . L, TP.Đà Nẵng) với giá 2.600.000 đồng. Số tiền bán điện thoại T đã tiêu xài cá nhân hết 1.400.000 đồng, giao nộp cho cơ quan Công an 1.200.000 đồng.
Vụ 3: Khoảng 07 giờ ngày 24/9/2024, T đi đến địa chỉ số B đường T, P . H, Q.L, TP.Đà Nẵng thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ, BKS: 43S6-1901 (không rút chìa khóa) của anh Phạm Thanh H (SN: 1989; trú: Tổ 49, P . C, Q . T, TP.Đà Nẵng). Lợi dụng việc không có người trông coi tài sản T trộm xe mô tô này rồi điều khiển đến quán I và đăng bài bán xe mô tô đã trộm lên trang Facebook “Mua bán xe máy cũ Đà Nẵng”. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T bán lại xe mô tô BKS: 43S6-1901 cho chị Trì Thị Minh T4 (SN: 1997; trú: Tổ G, P.A, Q.T, TP.Đà Nẵng) với giá 2.600.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Khi bán xe, T nói với chị T4 là xe của T, bị mất giấy tờ, cần tiền về quê gấp nên phải bán xe.
* Tang vật, tài liệu tạm giữ:
+ Của anh Đặng Ngọc P1: 01 ĐTDĐ Iphone Xr màu vàng;
+ Của chị Trì Thị Minh T4: 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ, BKS: 43S6-1901, số khung: 421340, số máy: 6421404;
+ Của anh Hồ Quốc V: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu đen đỏ, BKS: 43G1-305.73, số khung: 3800GY040386, số máy: JA38E0182413;
+ Của Đinh Ngọc Anh T: Số tiền 1.200.000 đồng;
+ Của anh Trần Công C: 01 USB màu xanh trắng kèm thẻ nhớ màu đen ghi nhận nội dung diễn biến vụ trộm ngày 19/9/2024;
* Theo kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Q . N kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr; dung lượng 64GB, màu vàng, số máy: MT4A2LL/A, số seri: G0NXN3MKKXKR; thời điểm định giá: Tháng 9/2024; kết luận về giá: 3.500.000 đồng.
* Theo kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Q . N kết luận:
+ Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, loại xe: hai bánh, dung tích xi lanh: 109 cm3, BKS: 43G1-305.73, màu sơn: đỏ đen, số khung: 3800GY040386, số máy: JA38E0182413; thời điểm định giá: Tháng 9/2024; kết luận về giá: 6.600.000 đồng.
+ Xe mô tô nhãn hiệu Honda nữ, loại xe: Hai bánh, dung tích xi lanh: 97cm3, BKS: 43S6-1901, màu sơn: Đỏ đen bạc, số khung: 421340, số máy: 6421404; thời điểm định giá: Tháng 9/2024; kết luận về giá: 3.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là: 13.100.000 đồng.
Quá trình điều tra, Đinh Ngọc Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HSST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Anh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo bản án.
Ngày 05/3/2025, bị cáo Đinh Ngọc Anh T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng pháp luật; mức án 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp; bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 17/9/2024 đến ngày 24/9/2024 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đinh Ngọc Anh T đã 03 lần lén lút chiếm đoạt tài sản gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 43G1 - 305.73 trị giá 6.600.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr trị giá 3.500.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda nữ BKS: 43S6 - 1901 trị giá 3.000.000 đồng; tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được là 13.100.000 đồng; sau khi chiếm đoạt được tài sản bị cáo mang đi bán được 8.000.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội của địa phương; bị cáo phạm tội 03 lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo như: Khai báo thành khẩn, tự thú các lần phạm tội trước đó, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và người liên quan; mức án 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp, không nặng chỉ là mức án khởi điểm của khung hình phạt và cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội; bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không có tình tiết gì mới, phạm tội thuộc trường hợp từ 02 lần trở lên, do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, mà giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí HSPT.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Ngọc Anh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đinh Ngọc Anh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đinh Ngọc Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV-CATP Đà Nẵng (PV 27); - Vụ GKKT – Vụ 1; - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - TAND quận Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Long |