vanban.org

Bản án 74/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Hồng Ngọc N. Buộc bà Chế Thị V có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Ngô Hồng Ngọc N số tiền là 419.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Chế Thị V có nghĩa vụ trả cho chị Ngô Hồng Ngọc N số tiền là 419.120.000 đồng, trong đó: nợ gốc là 370.000.000 đồng và nợ lãi 49.120.000…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Hồng Ngọc N. Buộc bà Chế Thị V có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Ngô Hồng Ngọc N số tiền là 419.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/DS–ST
Ngày 06/5/2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài
sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ–TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Mộng Linh.

2. Ông Nguyễn Thanh Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Sỉ–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quí– Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 563/2024/TLST–DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐST–DS ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Hồng Ngọc N, sinh năm 2001; Địa chỉ: ấp GH, xã A Đ, huyệnP, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Võ Thị Thúy N, sinh năm 1988; Địa chỉ: KP1, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Bà Chế Thị V, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp TL, xã GT, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Chị N có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bà V vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 29/9/2023 chị N có cho bà V vay số tiền là 337.000.000 đồng; lãi suất theo thỏa thuận; thời hạn vay 03 tháng tính, thời hạn trả là 29/12/2023, mục đích vay là để phát triển kinh tế gia đình. Khi vay bà V có viết biên nhận cho chị N. Sau khi vay bà V không trả vốn và lãi cho chị N.

Chị N yêu cầu bà V phải có nghĩa vụ giao trả cho chị N số tiền nợ gốc là 337.000.000 đồng. Và lãi suất phát sinh tính từ ngày 29/12/2023 đến ngày 06/5/2024 là 16 tháng với mức lãi suất là 0,83%/tháng, thành tiền là 49.120.000 đồng. Tổng cộng chi N yêu cầu bà V phải trả cho chị N là 419.120.000 đồng.

Bị đơn bà Chế Thị V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các Điều 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Chế Thị V có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Ngô Hồng Ngọc N nợ gốc 370.000.000 đồng và lãi suất là 49.120.000 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền: Bị đơn bà Chế Thị V cư trú tại ấp xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng:

- Chị Võ Thị Thúy N có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N.

- Bị đơn bà Chế Thị V đã được Tòa án án tống đạt các văn bản tố tụng đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà Chế Thị V đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bà V.

Về nội dung vụ án: Chị N yêu cầu bà V phải có nghĩa vụ giao trả cho chị N nợ gốc là 337.000.000 đồng và nợ lãi là 49.120.000 đồng. Tổng cộng là 419.120.000 đồng.

Xét thấy: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản gốc “Biên nhận” ngày 29/9/2023 để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Trong qúa trình giải quyết vụ án, bà Chế Thị V đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định của Toà án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đã từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy: Hợp đồng vay tài sản giữa chị Ngô Hồng Ngọc N với bà Chế Thị V được xác lập trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc nên được xem là hợp đồng hợp pháp. Do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Chế Thị V đã vi phạm hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận làm phát sinh tranh chấp. Lẽ đó yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Hồng Ngọc N là có căn cứ nên cần buộc bà Chế Thị V có nghĩa vụ trả cho chị Ngô Hồng Ngọc Nhân nợ gốc là 370.000.000 đồng và nợ lãi 49.120.000 đồng phù hợp nên được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Do yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Hồng Ngọc N chấp nhận nên anh bà Chế Thị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm b, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 217, 218, 219, 227, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, 357 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Hồng Ngọc N. Buộc bà Chế Thị V có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Ngô Hồng Ngọc N số tiền là 419.120.000 đồng, trong đó: nợ gốc là 370.000.000 đồng và nợ lãi 49.120.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Ngô Hồng Ngọc N được Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.055.000 đồng theo biên lai thu số 0006012 ngày 19 tháng 11 năm 2024.

- Bà Chế Thị V phải nộp là 20.764.000 đồng.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ