vanban.org

Bản án 74/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: B cáo Bùi Kim T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính t ngày 02/10/2023.

n phí: B cáo Bùi Kim T phải ch u 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. B cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Kim Trọng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: B cáo Bùi Kim T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính t ngày 02/10/2023.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST
Ngày 28-3-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Quí.

2. Bà Nguyễn Th im i n.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trọng Hưng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - iểm sát vi n.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/T ST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với b cáo:

Họ và t n: Bùi Kim T; giới tính: Nam; sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 32/4 ấp V, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: F3/1F tổ D, ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Bùi Văn (chết) và bà: Võ Th D, sinh năm 1955; b cáo có vợ và chưa có con;

- Tiền án: 01 (một), ngày 28/01/2016 b Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt nhưng đến ngày phạm tội chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí;

- Tiền sự: hông;

Nhân thân: Ngày 25/02/2005, b Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”; Ngày 06/4/2005 Tòa phúc thẩm giữ nguy n bản án sơ thẩm. B cáo đã chấp hành xong bản án.

B cáo b tạm giữ chuyển tạm giam t ngày 02/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện H cho đến nay; có mặt tại phi n tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 25/5/2022, Bùi Bảo (Sinh năm: 1988, HKTT: 10A ấp G, X, H) về nhà, do bực tức một người thanh ni n b n nhà số A ấp G, xã X, huyện H hay chạy xe nẹt pô gây ồn ào n n L rủ Bùi Bội 1 (Sinh năm: 1988, H TT: 47/17 ấp G, X, H) đến nhà trọ số 10/10 ấp G, xã X, huyện H của Nông Công K2 (Sinh ngày 05/6/2005), Trương Th Bích D1 (Sinh ngày 26/9/2007), Th Thanh V (Sinh ngày 15/10/2006), Nguyễn Th Bích N1 (Sinh ngày 10/5/2006) đều là nhân viên quán V P ấp G, xã X, huyện H, L đứng ngoài nói lớn tiếng. úc này V điện thoại cho Phạm Th Trúc 1 (Sinh năm 2000) nói có người đứng trước cửa gây chuyện đòi đánh nhau thì L1 nói lại cho Nguyễn Văn Đ và Bùi Kim T ngồi nhậu tại quán “Vườn Cau” n n Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Winner biển số 95B1-473.18 chở T đến nhà trọ của D1, V, K2, N1. hi đến nhà trọ T gặp hỏi L thì L thách thức đòi đánh nhau nhưng được K1 và L2 (bạn L) can ngăn kéo về nhà n n T và Đoàn bỏ về quán V1.

hi về đến quán ăn V1, T bực tức việc L thách thức đánh nhau n n T gọi điện thoại cho M (chưa rõ lai l ch) nhờ M k u người đến hỗ trợ thì khoảng một lúc sau M đi cùng hai người thanh ni n (không rõ lai l ch) đến quán ăn Vườn C, M điều khiển xe gắn máy hiệu Wave màu đỏ chở T, cùng hai người thanh ni n bạn M đi một xe (không rõ loại xe và biển số) chạy đến nhà trọ số 10/10 ấp G, xã X, huyện H để gặp L nói chuyện thì L đã vào nhà gần đó, L đứng tr n lầu 1 ngoài hành lang lớn tiếng thách thức đánh nhau với nhóm T, hai bên có cãi nhau qua lại thì một người thanh ni n trong nhóm T nhặt đá ném vào nhà của L rồi nhóm T bỏ đi về. úc này M nói để đi lấy hàng rồi quay lại, còn Trọng bỏ về quán V1 ngồi nhậu với Đ.

hoảng 15 phút sau, M cùng 06 người thanh ni n (chưa rõ lai l ch) đi tr n 03 xe gắn máy đem theo 01 bao hung khí đến quán V1 gặp T. Lúc này Đ điều khiển xe gắn máy hiệu hiệu Honda Winner biển số 95B1-473.18 chở T và một người thanh ni n cùng M và 05 thanh ni n điều khiển hai xe gắn máy chở ba cầm hung khí tr n đến nhà trọ của V, N1, D1 để tìm L đánh nhau, trong đó T cầm một cây dao tự chế dài khoảng 160cm, cán bằng gỗ dài 100cm, lưỡi dao dài 60cm. hi cả nhóm chạy đến giao lộ Phan Văn H và XTT-59 thuộc ấp G, xã X, huyện H thì gặp L đang đứng ngoài đầu hẻm, T, M cùng bạn của M cầm mã tấu xông đến chỗ L để chém nhưng chưa k p chém thì thấy lực lượng Công an xã X n n cả nhóm bỏ chạy, lực lượng Công an xã X truy tìm bắt giữ Đoàn, T cùng hung khí đưa về trụ sở làm việc.

Trong quá trình điều tra Bùi Kim T bỏ trốn Cơ quan điều tra đã ra quyết đ nh truy nã. Đến ngày 02/10/2023, T b bắt theo quyết đ nh truy nã. Đối với Nguyễn Văn Đ đã b Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử theo bản án số: 203/HS-ST ngày 05/9/2023;

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Bùi Kim T khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng: Tất cả vật chứng đã giải quyết xong tại bản án số: 203/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh;

Tại bản Cáo trạng số 65/CT-V SHHM ngày 02/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố b cáo Bùi Kim T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phi n tòa trình bày lời luận tội giữ nguy n quyết đ nh truy tố và đề ngh :

- Truy tố b cáo Bùi Kim T về tội “Gây rối trật tự công cộng”;

- p dụng b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề ngh xử phạt b cáo Bùi Kim T mức hình phạt t 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

- Về vật chứng thu giữ: đã giải quyết xong tại bản án số 203/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

B cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng b cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

[1] Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, iểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, b cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra vi n, iểm sát vi n đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Tại phi n tòa, b cáo Bùi Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi cùng đồng phạm gây rối trật tự công cộng b cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng; nội dung b cáo khai nhận phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố.

Đối chiếu lời khai nhận của b cáo Bùi Kim T cùng đồng phạm tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và lời khai qua xét hỏi công khai tại phi n tòa phù hợp với nhau và phù hợp với: Bi n bản bắt người phạm tội quả tang, các bi n bản (tạm giữ đồ vật - tài liệu; ni m phong và mở ni m phong vật chứng), lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án; cùng các tài liệu, bi n bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Đã có đủ cơ sở để kết luận: Rạng sáng ngày 25/5/2022, do có mâu thuẫn với Bùi Bảo , Bùi Kim T khi ngồi nhậu với Nguyễn Văn Đ đã gọi điện cho M và những người bạn của M (không xác đ nh được nhân thân lai l ch), cùng đến nhà của L nhằm mục đích đánh L. Sau khi M đến, Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Winner biển số 95B1- 473.18 chở T và một người thanh ni n, tr n tay T cầm một cây dao tự chế dài khoảng 160cm, cán bằng gỗ dài 100cm, lưỡi dao dài 60cm. M và 05 thanh ni n khác điều khiển hai xe gắn máy, mỗi xe chở ba, có cầm theo hung khí đi tìm L, giải quyết mâu thuẫn. hi cả nhóm chạy đến giao lộ Phan Văn H và XTT-59 thuộc ấp G, xã X, huyện H thì gặp L đang đứng ngoài đầu hẻm, Đ giữ xe còn T, M cùng bạn của M cầm mã tấu xông đến chỗ L để chém nhưng chưa k p chém thì thấy lực lượng Công an xã X n n cả nhóm bỏ chạy. Sự việc xảy ra làm người dân xung quanh và những người đang lưu thông tr n đường hoảng sợ, ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự tại đ a phương.

Xét, b cáo cùng đồng phạm rủ r , lôi kéo có tính chất băng nhóm đông người, sử dụng mã tấu, cây chĩa (dao tự chế), rượt đuổi đánh anh L tại giao lộ P và XTT-59, gây mất trật tự tr an đ a phương là tình tiết đ nh khung “Dùng hung khí, vũ khí hoặc có hành vi phá phách”. Hành vi của b cáo Bùi Kim T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Gây rối trật tự công cộng” theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tr an tại đ a phương; B cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ b pháp luật tr ng tr , nhưng chỉ vì giải quyết bức xúc không chính đáng của bản thân mà b cáo đã bất chấp hậu quả, có thái độ xem thường pháp luật. Để đảm bảo tính nghi m minh của pháp luật, về hình phạt đặt ra phải nghi m cần có thời gian đủ dài cách ly xã hội mới có tác dụng của hình phạt, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ng a chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

hi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: khi b cáo cùng đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội mang tính bộc phát, không có sự cấu kết chặt chẽ; trong giai đoạn điều tra và tại phi n tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình để xem xét giảm nhẹ cho b cáo một phần hình phạt đáng ra phải ch u theo quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

B cáo Bùi Kim T đã t ng b Tòa án xét xử, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội do cố ý, lần phạm tội này của b cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy đ nh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhi n Tòa án ghi nhận đến ngày 06/02/2023, trước thời điểm xét xử b cáo đã nộp toàn bộ số tiền án phí, tiền phạt bổ sung theo Giấy xác nhận kết quả thi hành án án số: 19/GXN-CCTHA, ngày 06/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, do đó b cáo đã thi hành xong toàn bộ bản án được xác đ nh là tiền án, cũng thể hiện một phần thái độ chấp hành pháp luật của b cáo.

[4]. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố để xét xử đối với b cáo Bùi Kim T về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố đã viện dẫn là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai; mức hình phạt đề ngh xử phạt đối với b cáo là có căn cứ n n được chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: đã giải quyết xong tại bản án số 203/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Về nghĩa vụ ch u án phí: B cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử phạt: B cáo Bùi Kim T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính t ngày 02/10/2023.

2. n phí: B cáo Bùi Kim T phải ch u 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. B cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 uật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 uật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ