vanban.org

Bản án 74/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Bảo C:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bảo C ly hôn với ông Nguyễn Ngọc L. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Uy Vũ, sinh ngày: 24/01/2022, cho bà Huỳnh Thị Bảo C trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Bảo C:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH,
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 – 8 – 2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thông Phi;

2. Bà Phan Thị Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Bá Thành – Thư ký TAND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bảo C, sinh năm: 1988;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1988;

Cùng nơi cư trú: Số X, đường số Y, xóm Z, thôn V, xã M.T, huyện T.L, tỉnh B.T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/4/2024, và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Bảo C trình bày:

Bà C và ông Nguyễn Ngọc L tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau như vợ, chồng từ năm 2020, đến năm 2022, bà C và ông L đăng ký và được UBND xã Măng Tố cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15, ngày 08/3/2022. Bà C và ông L có 01 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Uy Vũ, sinh ngày: 24/01/2022. Bà C và ông L sống chung tại nhà của bà C tại địa chỉ: Số 23, đường số 7, xóm 5, thôn 6, xã Măng Tố, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn, bà C và ông L bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông L vi phạm nghĩa vụ làm chồng, làm cha, không quan tâm, chăm sóc gia đình, có hành vi bạo lực gia đình với bà C. Năm 2023, mẹ ông L và ông L có đánh bà C, sự việc đó được trình báo với lực lượng Công an xã Măng Tố, nhưng không lập biên bản, chỉ hòa giải, việc này cũng được nhiều người dân xung quanh chứng kiến. Ông L thường xuyên vắng nhà, không rõ là đi đâu, không đưa tiền cho bà C để chăm lo cho con và gia đình. Căn nhà hiện nay đang sinh sống là tài sản riêng của bà C, bà C đã nhiều lần ông L chuyển đi nơi khác sinh sống, nhưng ông L không đồng ý. Quan hệ vợ, chồng giữa bà C và ông L hiện nay chỉ tồn tại trên danh nghĩa, chứ thực tế, chúng bà C mỗi người đều tự sống cuộc sống của riêng mình. Chính vì vậy, bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Ly hôn với ông Nguyễn Ngọc L;

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Uy Vũ, sinh ngày: 24/01/2022, cho bà Huỳnh Thị Bảo C trực tiếp nuôi dưỡng, bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện tại, bà C đang bán hàng hóa qua mạng internet, thu nhập mỗi tháng trung bình dao động từ 15 triệu đến 20 triệu đồng, đủ đảm bảo để nuôi dưỡng cháu Vũ mà không cần ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý, tống đạt các văn bản tố tụng, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác tình trạng hôn nhân của bà Huỳnh Thị Bảo C và ông Nguyễn Ngọc L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, đủ căn cứ để ly hôn, trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần thiết phải giao cháu Nguyễn Huỳnh Uy Vũ cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Chính vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Huỳnh Thị Bảo C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Ngọc L, giao cháu Nguyễn Huỳnh Uy Vũ, sinh ngày: 24/01/2022, cho bà C trực tiếp nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Ngọc L có nơi cư trú tại thôn 6, xã Măng Tố, huyện Tánh Linh nên thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tại phiên tòa, vắng mặt bà Huỳnh Thị Bảo C và ông Nguyễn Ngọc L, trong đó bà C đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng.

Trên cơ sở lời trình bày của bà C về tình trạng hôn nhân, ngày 28/6/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh và được Công an xã Măng Tố cung cấp thông tin sự vào năm 2023, bà C có trình báo việc bà Nguyễn Thị Ngan, là mẹ ruột của ông L, và ông L hành hung, đánh bà C, sau khi xác minh đúng là có sự việc các bên gây gỗ nhau do xuất phát từ mâu thuẫn vợ, chồng, gia đình, vì chưa đến mức xử lý hành chính nên Công an xã đã tiến hành hòa giải. Ông Nguyễn Ngọc L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án nhưng không cung cấp bản ghi ý kiến, không đến Tòa án để cung cấp lời khai, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án là không thực hiện nghĩa vụ và từ bỏ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” (Khoản 1 Điều 19); “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau” (Điều 21). Trên cơ sở trình bày của đương sự, tài liệu, chưng cứ do Tòa án thu thập được và quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, đủ cơ sở để xác định hôn nhân của bà C và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Bảo C, về việc ly hôn với ông Nguyễn Ngọc L là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Con chung của bà C và ông L là cháu Nguyễn Huỳnh Uy Vũ, sinh ngày: 24/01/2022, vì chưa đủ 36 tháng tuổi và nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, trong khi ông L không đưa ra ý kiến đề nghị được trực tiếp nuôi con, không chứng minh bà C không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu giao cháu Vũ cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HNGĐ, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[5] Bà Huỳnh Thị Bảo C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 8 Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự,

- Điều 19, Điều 21, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 4, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HNGĐ, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

- Khoản 8 Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Bảo C:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bảo C ly hôn với ông Nguyễn Ngọc L.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Uy Vũ, sinh ngày: 24/01/2022, cho bà Huỳnh Thị Bảo C trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Ngọc L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Bà Huỳnh Thị Bảo C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo Biên lai thu số 0005817, ngày 03/4/2024.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ