vanban.org

Bản án 74/2023/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1/ Buộc Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T V toàn bộ số tiền là tiền gốc, lãi, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/9/2023 là 1.692.186.697 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền do các đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 121 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/KDTM-ST;
Ngày: 14/9/2023;
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng Phương

2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên, cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều- Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 93/2022/TLST-KT ngày 14/11/2022 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 612/2023/QĐXXST-KT ngày 14 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 788/2023/QĐST-KT ngày 14/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam T V (VPBank)

Trụ sở chính: 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Tp.Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành Tr- Chức vụ: Phó Giám đốc Trung Tâm Xử lý nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam T V. (Là người được ủy quyền theo văn bản ủy quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/07/2020 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank)

Người nhận ủy quyền: Ông Nguyễn Huỳnh Hữu T, 1994 (Theo Văn bản ủy quyền số 2617/2022/UQ-KHDNMN ngày 20/9/2022) và Đặng Đức Tr, 1997 (Theo Văn bản ủy quyền số 162/2023/UQ-KHDNMN ngày 30/01/2023)

Địa chỉ liên hệ: Tầng 1, Tòa nhà ACM, A, Cao Th, Phường 4, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.

(Có mặt).

- Bị đơn: Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T; Mã số doanh nghiệp 0315229717 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp;

Trụ sở: A, đường TX, tổ 48, khu phố 4, phường Thạnh Xuân, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Trọng N, Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc;

Địa chỉ: A, đường TX, tổ 48, khu phố 4, phường Thạnh Xuân, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

-Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan: Ông Phạm Trọng N – Bên bảo lãnh khoản vay Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T;

Địa chỉ: A, đường TX, tổ 48, khu phố 4, phường Thạnh Xuân, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Việt Nam T V (VPBank) và trong các bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T trụ sở chính tại: A, đường TX52, Phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đại diện theo pháp luật là – Ông Phạm Trọng N, chức vụ: Giám đốc, vay vốn tại VPBank Sài Gòn – PGĐ Phan Huy Ích theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: EGV/21404 ngày 05/07/2021 và Hợp đồng cho vay số GVP/20032 ngày 13/01/2020 cùng các khế ước nhận nợ, phụ lục, văn bản sửa đổi, văn bản liên quan với các nội dung tóm tắt như sau:

SỐ TIỀN THỜI

NGÀY

NGÀY

KHẾ ƯỚC

MỤC ĐÍCH

VAY

HẠN

GIẢI

ĐẾN

LÃI SUẤT VAY NHẬN NỢ

VAY

(ĐỒNG)

VAY

NGÂN

HẠN

Thời hạn vay 06 tháng,

Bổ sung vốn lưu ls ban đầu 18 %/năm, ls Lần: 01/số:

động phục vụ được thay đổi 01M 1 EGV/21404-

05/01/

210.003.4

06

hoạt động kiến lần ngày điều chỉnh đầu 01

05/07/2021

20 đồng

tháng

trúc và tư vấn kỹ tiên 05/08/2021 điều

2022

Ngày

thuật có liên chỉnh định kỳ 01 tháng 05/07/2021

quan

01 lần LSBV, bd

+11.6%.

Thời hạn vay 06 tháng,

Bổ sung vốn lưu ls ban đầu 18 %/năm, ls Lần: 02/số:

động phục vụ được thay đổi 01M 1 EGV/21404-

07/01/

589.980.1

06

hoạt động kiến lần ngày điều chỉnh đầu 02

07/07/2021

23 đồng

tháng

trúc và tư vấn kỹ tiên 07/08/2021 điều

2022

Ngày

thuật có liên chỉnh định kỳ 01 tháng 07/07/2021

quan

01 lần LSBV, bd

+11.6%.

Thanh toán tiền

mua xe ô tô con

nhãn

hiệu

FORD

RANGER XLS Thời hạn vay 60 tháng, Lần: 01/số:

AT 2.2L mới ls ban đầu 7.9 %/năm, GVP/20032-

100% theo hợp ls được thay đổi 03M 1

10/01/

535.500.0

60 01

15/01/2020

đồng mua bán lần ngày điều chỉnh đầu

00 đồng

tháng

2025

số:

tiên 16/11/2018 điều Ngày

211/2001/CTF- chỉnh định kỳ 03 tháng 15/01/2020

HDMB

giữa 01 lần LSTK, bd +4%.

Công ty cổ phần

City Auto và

bên vay ngày

03/01/2020

Để bảo đảm cho khoản vay trên, VPBank và các bên đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm sau:

- Thế chấp bằng xe ô tô FORD RANGER biển số 51D-630.26 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số GVP/20033 ngày 13/01/2020.

- Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Phạm Trọng N theo Hợp đồng bảo lãnh số EGV/21405 ngày 05/07/2021.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. VPBank đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T để yêu cầu hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến nay Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T vẫn tiếp tục không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên toàn bộ khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn.

Tạm tính đến hết ngày 20/09/2022 Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T còn nợ các khoản sau tại VPBank: Nợ gốc quá hạn: 1,155,666,494 đồng; Nợ lãi quá hạn: 221,373,152 đồng; Phạt chậm trả: 8,184,847 đồng; Lãi bổ sung: 25,952,840 đồng. Tổng cộng: 1.385.224.493 đồng

Người khởi kiện yêu cầu buộc:

1/. Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T phải trả ngay một lần cho VPBank tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 14/9/2023 là: Nợ gốc quá hạn: 1,155,666,494 đồng; Nợ lãi phải trả: 483.040.278 đồng; Phạt chậm trả: 53.479.925 đồng. Tổng cộng: 1.692.186.697 đồng

Ngoài ra, kể từ ngày 15/9/2023, Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả, lãi bổ sung theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPBank.

2/. Trường hợp Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, VPBank có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho VPBank, chi tiết tài sản thế chấp như sau: Xe ô tô FORD RANGER biển số 51D-630.26 theo giấy chứng nhận đăng ký số 546499 do Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/01/2020.

3/. Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp nêu trên không đủ để thanh toán nợ cho VPBank thì ông Phạm Trọng N phải tiếp tục thanh toán cho VPBank theo hợp đồng bảo lãnh đã ký.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và không cung cấp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1/ Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc trả tiền vốn, tiền lãi, tiền lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng do hai bên xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có trụ sở tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các Điều 29, 33, 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa không lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự này theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3/ Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở để xác định:

Ngân hàng TMCP Việt Nam T V và Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T có ký kết với nhau theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: EGV/21404 ngày 05/07/2021 và Hợp đồng cho vay số GVP/20032 ngày 13/01/2020 cùng các khế ước nhận nợ:

Lần: 01/số: EGV/21404-01 ngày 05/07/2021, với Tổng hạn mức 210.003.420 đồng, Ngày giải ngân: 05/7/2021; Ngày đến hạn: 05/01/2022; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật có liên quan; Thời hạn vay 06 tháng, lãi suất ban đầu 18 %/năm, lãi suất được thay đổi 01M 1 lần ngày điều chỉnh đầu tiên 07/08/2021 điều chỉnh định kỳ 01 tháng 01 lần LSBV, bd +11.6%.

Lần: 02/số: EGV/21404-02 ngày 07/07/2021, với Tổng hạn mức 589.980.123 đồng, Ngày giải ngân: 05/07/2021; Ngày đến hạn: 07/01/2022; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật có liên quan; Thời hạn vay 06 tháng, lãi suất ban đầu 18 %/năm, lãi suất được thay đổi 01M 1 lần ngày điều chỉnh đầu tiên 07/08/2021 điều chỉnh định kỳ 01 tháng 01 lần LSBV, bd +11.6%.

Lần: 01/số: GVP/20032-01 ngày 15/01/2020, với Tổng hạn mức 535.500.000 đồng, Ngày giải ngân: 15/01/2020; Ngày đến hạn: 10/01/2025; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô con nhãn hiệu FORD RANGER XLS AT 2.2L mới 100% theo hợp đồng mua bán số: 211/2001/CTF-HDMB giữa Công ty cổ phần City Auto và bên vay ngày 03/01/2020; Thời hạn vay 60 tháng, lãi suất ban đầu 7.9 %/năm, lãi suất được thay đổi 03M 1 lần ngày điều chỉnh đầu tiên 16/11/2018 điều chỉnh định kỳ 03 tháng 01 lần LSTK, bd +4%.

Ông Phạm Trọng N và Ngân hàng TMCP Việt Nam T V ký kết hợp đồng bảo lãnh số EGV/21405 ngày 05/7/2021. Theo đó ông Nghĩa đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của Bên bảo lãnh đối với ngân hàng theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: EGV/21404 ngày 05/07/2021 và Hợp đồng cho vay số GVP/20032 ngày 13/01/2020.

Các khế ước nhận nợ có đầy đủ chữ ký và đóng dấu của đại diện bên cho vay là Ngân hàng TMCP Việt Nam T V và đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Phạm Trọng N – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc

Tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay bao gồm:

Xe ô tô FORD RANGER biển số 51D-630.26 theo giấy chứng nhận đăng ký số 546499 do Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/01/2020

Theo nguyên đơn trình bày trong quá trình sử dụng vốn vay, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ bị đơn và người bảo lãnh là ông Phạm Trọng N để yêu cầu trả nợ nhưng bị đơn và người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Căn cứ Bảng kê các khoản nợ gốc và lãi phát sinh của bị đơn đến ngày xét xử do Ngân hàng cung cấp thể hiện đến ngày 14/9/2023. Số tiền Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T còn nợ ngân hàng gồm: Nợ gốc: 1.155.666.494 đồng, nợ lãi: 483.040.278 đồng, lãi chậm trả: 53.479.925 đồng. Tổng cộng là 1.692.186.697 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có công văn xác minh cư trú đối với ông Phạm Trọng N và tình hình hoạt động của Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T. Tại kết quả xác minh của Công an phường Thạnh Xuân trả lời:

- Hiện tại địa chỉ 278, TX 52, tổ 48, khu phố 4, phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh không còn hoạt động của Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T từ năm 2020. Không rõ đã chuyển đi đâu, không có thông tin liên lạc.

- Ông Phạm Trọng N không đăng ký cư trú tại địa chỉ: 278, TX 52, tổ 48, khu phố 4, phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Tòa án có công văn gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh về việc cung cấp thông tin đối với Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T. Theo Công văn số 8283/ĐKKD-T6 ngày 29/12/2022 của Phòng đăng ký kinh doanh – thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh trả lời:

- Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T (Mã số doanh nghiệp 0315229717) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký lần đầu ngày 17/8/2018. Đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 06/8/2020. Địa chỉ trụ sở chính: 278, TX 52, phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật của công ty: Phạm Trọng N, chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc. Chỗ ở hiện nay: 278, TX 52, phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Đến nay, Công ty chưa đăng ký giải thể.

Căn cứ vào quy định điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung”.

Tòa án đã triệu tập ông Phạm Trọng N là Người đại diện theo pháp luật của Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T và là Người bảo lãnh nhiều lần, nhưng ông Phạm Trọng N vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Ông Phạm Trọng N đã từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định tại Điều 91; Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những lời khai của của nguyên đơn là chứng cứ.

Bị đơn và người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, đã vi phạm Hợp đồng cho vay số: GVP/20032 ngày 13/01/2020 và Hợp đồng cho vay hạn mức số: EGV/21404 ngày 05/07/2021.

Do đó, căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 92 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghi ̣ quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hô ̣i đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cùng các tài liê ̣u nguyên đơn cung cấp, có cơ sở chấp nhâ ̣n yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán ngay khi án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t số tiền tạm tính đến ngày 14/9/2023 là 1.692.186.697 đồng

Buộc Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T V tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 15/9/2023 tính trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì bên nhận thế chấp tức là Nguyên đơn được quyền yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Theo Điều 299 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm có quy định như sau: “1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. 2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật”.

Trong trườ ng hợp đến ngày án có hiê ̣u lực thi hành mà bi ̣ đơn không thực hiê ̣n hoă ̣c thực hiê ̣n không đúng nghia vu ̣̃

trả nợ thi nguyên đơn có quyền yêu cầu

̀ Chi cu ̣c Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mai tài sản thế chẫ

́p là Xe ô tô FORD RANGER biển số 51D-630.26 theo giấy chứng nhận đăng ký số 546499 do Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/01/2020 để thu hồi nợ cho Ngân hàng là hoàn toàn hợp lý.

Trường hợp nếu đến ngày án có hiệu lực thi hành khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn đã thanh toán hết số tiền nợ gốc, lãi, lãi phát sinh tiếp tục đến ngày thanh toán thì nguyên đơn phải trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ đang còn giữ cho ông Phạm Trọng N là đại diện theo pháp luật của bị đơn.

Xét thấy, tại hợp đồng bảo lãnh số EGV/21405 ngày 05/07/2021, ông Phạm Trọng N đồng ý bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán tiền vay mà Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T phải thực hiện với ngân hàng. Trường hợp Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền vay theo các Hợp đồng tín dụng. Ông Phạm Trọng N cam kết sẽ thực hiện các nghĩa vụ này thay cho Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T. Việc bảo lãnh này là vô điều kiện và không hủy ngang. Căn cứ Điều 335, 336, 338, 339, 340, 342 Bộ luật dân sự năm 2015, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Phạm Trọng N thanh toán cho nguyên đơn số nợ của Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T trong trường hợp Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán.

3/ Về án phí:

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về kinh doanh thương mại.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T V toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo đơn khởi kiện là 26.778.367 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0022470 ngày 10/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 121, 122, 124, 302, 305, 318, 319, 320, 323, 342, 343, 348, 351, 355, 388, 389, 401, 404, 405, 471, 474, 476 của Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ các Điều 299, 323, 335, 336, 338, 339, 340, 342 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1/ Buộc Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T V toàn bộ số tiền là tiền gốc, lãi, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 14/9/2023 là 1.692.186.697 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Việc giao nhận tiền do các đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngoài ra, bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 15/9/2023 cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ cho nguyên đơn trên số tiền nợ gốc mà bị đơn đã vay của nguyên đơn theo như Hợp đồng cho vay hạn mức số: EGV/21404 ngày 05/07/2021 và Hợp đồng cho vay số GVP/20032 ngày 13/01/2020.

Trường hợp bị đơn không thanh toán số tiền trên cho nguyên đơn ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ số tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn gồm:

- Xe ô tô FORD RANGER biển số 51D-630.26 theo giấy chứng nhận đăng ký số 546499 do Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/01/2020.

- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T tại Ngân hàng TMCP Việt Nam T V

- Nếu số tiền còn dư hoàn trả lại cho Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T

- Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T V

Trường hợp Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T không thanh toán đầy đủ khoản tiền nêu trên thì buộc ông Phạm Trọng N phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam T V cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ theo hợp đồng bảo lãnh số EGV/21405 ngày 05/07/2021; Các Khế ước nhận nợ nêu trên mà các bên đã thỏa thuận đã ký.

Trường hợp nếu đến ngày án có hiệu lực thi hành khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn đã thanh toán hết số tiền nợ gốc, lãi, lãi phát sinh tiếp tục đến ngày thanh toán thì nguyên đơn phải trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến xe ô tô FORD RANGER biển số 51D-630.26 theo giấy chứng nhận đăng ký số 546499 do Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/01/2020.

4/ Về án phí:

Buộc Công Ty Cổ phần Tư Vấn Kiến Trúc V Và T phải nộp số tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 62.765.601 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.778.367 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0022470 ngày 10/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

5/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6/ Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ