- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H phạm tội: “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HS-ST Ngày: 28/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
2. Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Phan Văn H; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1991; Hộ khẩu thường trú: Khu phố T, phường B, thị xã N, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Không ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Phan Văn T, sinh năm: 1969; Mẹ: Đinh Thị L, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em: có 03 anh em, Bị cáo là con thứ 2; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 31/7/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 03/12/2021 chấp hành xong.
Nhân thân :
- Ngày 29/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2015, đã nộp án phí.
- Ngày 27/02/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2019, đã nộp án phí và bồi thường dân sự. Bị cáo bị tạm giam ngày 15/5/2022 (có mặt). Bị hại: Anh Nguyễn Minh Th, sinh năm 2000; Địa chỉ: X, Phường Y, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 13/5/2022, anh Nguyễn Minh Th lưu thông trên đường Lê Văn Việt, thành phố Thủ Đức hướng từ ngã tư Thủ Đức đến đường Lã Xuân Oai. Khi đến trước nhà số 186 đường Lê Văn Việt, phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì anh Th lấy điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus ra xem bản đồ. Lúc này, có Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 36B3-579.22 (biển số giả, biển số thật là 77C1-303.88) chở Phan Văn H ngồi phía sau lưu thông theo chiều ngược lại xe của anh Th.T nhìn thấy điện thoại của anh H nên quay đầu xe lại chạy theo phía sau anh Th rồi vượt lên áp sát bên trái anh Th, để H dùng 02 tay giật lấy điện thoại của anh Th rồiTtăng ga bỏ chạy. Anh Th tri hô đuổi theo đến trước địa chỉ nhà số 372 đường Lê Văn Việt, phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức thì Tvà H bị ngã xe,T chạy bộ tẩu thoát còn H chạy bộ vào hẻm số 33 đường Lê Văn Việt, H chạy tiếp vào sân nhà số 300/24 Lê Văn Việt, phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức lấy 02 con dao trong sân nhà rồi trèo lên mái nhà số 300/38 cố thủ. Người dân thấy H cố thủ trên mái nhà nên báo đến cơ quan Công an, Công an phường Tăng Nhơn Phú B đến yêu cầu H xuống đất và dẫn đến Công an phường Tăng Nhơn Phú B giải quyết sự việc. Qua xác minh, Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại nhà trọ số 87 Tổ 3, Khu phố 5, phường Tân Hưng Th, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện T không có mặt tại địa phương nên không ghi được lời khai. Kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: Điện thoại di động Iphone 6S Plus có giá trị 1.780.000 đồng. Vật chứng vụ án :
- 01 biển số xe mô tô 36B3-579.22
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Iphone 6S Plus đã trả lại bị hại.
- 01 áo khoác màu xanh.
- 01 nón bảo hiểm màu đỏ-xám. Kết quả xác minh, xe mô tô biển số 36B3-579.22 là biển số giả, xe trên có biển số thật là 77C1-303.88 do anh Phan Văn Hào là em trai của Phan Văn H đứng tên chủ sở hữu. Anh Hào cho H mượn xe trên đi chơi lễ ngày 01/5/2022. Sau đó H lấy xe trên đi cướp giật tài sản anh Hào không biết, Cơ quan Điều tra đã trả lại xe trên cho anh Hào (giữ lại biển số 36B3-579.22). Xe mô tô có biển số 36B3-579.22 là xe do anh Lê Văn Thượng có hộ khẩu tại thôn Trung Thôn, xã Định Hòa, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đứng tên chủ sở hữu. Xe trên bị mất trộm vào năm 2014 tại tỉnh Bình Dương nhưng anh Thượng không trình báo. Hiện anh Thượng đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, gia đình anh Thượng không ý kiến gì về biển số xe trên. H khai biển số xe 36B3-579.22 doTnhờ một thanh niên không rõ lai lịch mua, H là người đưa tiền 100.000 đồng cho người thanh niên, biển số xe giá 30.000 đồng, còn 70.000 đồng trả công cho người thanh niên.Tvà H thay biển số giả để tránh bị phát hiện, còn biển số xe thậtTcất nơi nào H không biết.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Minh Th nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTPTĐ ngày 15/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Văn H về tội: “Cướp giật tài sản”.
Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Về phần vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Văn H phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Vào khoảng 21giờ 30 phút ngày 13/5/2022, Phan Văn H cùng Nguyễn VănTđã có hành vi dùng xe mô tô ép sát bị hại Nguyễn Minh Thđể cho H nhanh chóng bất ngờ giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus trị giá 1.780.000 đồng của anh Nguyễn Minh Th, tại trước số nhà 186 Lê Văn Việt, phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Phan Văn H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của Phan Văn H đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng bị can và phòng ngừa chung cho xã hội. [3]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. [4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Đối với đối tượng Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại nhà trọ số 87 Tổ 3, Khu phố 5, phường Tân Hưng Th, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Minh Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. [6] Về vật chứng vụ án:
- 01 biển số xe mô tô 36B3-579.22; 01 áo khoác màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đỏ-xám là tang vật vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu tiêu hủy. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng theo điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Văn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2022.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số xe mô tô 36B3-579.22; 01 áo khoác màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đỏ-xám.
(Theo Phiếu nhập kho số: NK23/059C ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phan Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại; - VKSND, CA, Chi cục THA thành phố Thủ Đức; - PC27; - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Dung THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |