- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản" khoản 2 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HS-ST Ngày: 23/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Danh Tuất.
Bà La Thị Thu Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa:
Ông Cù Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 71/2023/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2023/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 tại Kiên Giang;
Nơi cư trú: Ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1956 (Chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1957; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án:
+ Ngày 25/02/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 11/2011/HSST). Đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí theo quy định.
+ Ngày 17/4/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 131/2014/HSST). Đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí theo quy định.
+ Ngày 29/01/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 14/2019/HS-ST). Đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí theo quy định.
+ Ngày 26/3/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 43/2021/HS-ST), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2021, chưa đóng án phí theo quy định.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 28/4/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 30/2010/HSST). Ngày 06/11/2017, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đã xét miễn giảm cho bị cáo số tiền 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị bắt, tạm giam ngày: 15/12/2022.
“Bị cáo có mặt”.
Bị hại:
- Ông Lê Tự Bảo T, sinh năm: 1997 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện H, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Tự Bảo T1, sinh năm: 1995 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kom Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 14/12/2022, Nguyễn Văn Đ, uống cà phê (không rõtên) tại phường M, thị xã P thì gặp một người tên H1 (không rõlai lịch). Qua nói chuyện, Đ nhờ H1 chở Đ lên huyện X để gặpbạn và xin việc làm, H1 đồng ý. Trước khi đi, H1 và Đ rủ nhau cùng muama túy để sử dụng, rồi H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màuxanh dương (không rõ biển số) của H1 chở Đ đến phường M, thị xãPhú M gặp một người tên B (không rõ nhân thân) mua 800.000 đồng matuý. Sau khi mua được ma túy Đ và H1 cùng nhau sử dụng. Đến trưa cùngngày H1 điều khiển xe mô tô chở Đ từ thị xã P tới huyện X gặp bạn của Đ tên T1 (không rõ nhân thân). Khi tới xã B, huyệnXuyên Mộc, Đ gọi điện cho T1 nhưng không liên lạc được nên Đ nhờHiền chở Đ về thị xã P. Khi đi đến bùng binh xã B, huyệnXuyên Mộc, Đ phát hiện thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 82B1- 460.95, màu xanh của anh Lê Tự Bảo T, sinh năm 1997, trú tại ấp L, xã B, huyện X để trên vỉa hè, thuộc ấp L, xã B và trên xe cắm sẵn chìa khóa nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tàisản, Đ nói H1 dừng xe lại bên lề đường để Đ đi có việc, H1 dừng xe vàolề đường Quốc lộ 55, cách chiếc xe của anh T khoảng 100m, Đ đi bộ lại xemô tô của anh T rồi nổ máy bỏ chạy về huyện Đ. Khi đến xã P, huyện Đ thì xe mô tô Đ trộm được hết xăng nên Đ chạy vàođường hẻm, bỏ xe mô tô trộm được lại và rút chìa khóa xe bỏ vào túi áo khoácrồi đi bộ ra dường Quốc lộ E. Lúc này, do không có số điện thoại của H1 nênĐạt gọi điện cho T1 để nhờ đến đón nhưng không gọi được, Đ đi bộ vàoquán nước mía của chị Vũ Thị H2, sinh năm 1981, trú tại ấp P, xã P, huyện Đ uống nước, được một lúc thì Công an X1, huyện Đ đến kiểm tra và phát hiện trong túi áo khoác củaĐạt có chìa khóa xe mô tô biển số: 82B1- 460.95, nên mời Đ về Cơ quan Côngan làm việc, tại cơ quan Công an Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên.Ngoài ra Đ còn khai nhận ngày 14/12/2022, khi Đ gặp H1 tại quán càphê thuộc phường M, thị xã P thì Đ và H1 đã bàn nhau đi muama túy để cùng nhau sử dụng, lúc này Đ và H1 mỗi người góp 400.000 đồng,tổng 800.000 đồng. Sau đó, H1 gọi điện thoại cho một người tên B hỏi muama túy, sau đó H1 chở Đ đến phường M, thị xã P gặp B ởngoài đường và mua 01 gói ma túy với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được matúy H1 và Đ đi tìm chỗ vắng và cùng nhau sử dụng, số ma túy còn lại Đ bỏvào túi quần Jean của Đ cất dấu để lần sau sử dụng. Sau khi thực hiện hành vitrộm cắp tài sản của anh Lê Tự Bảo T, Công an xã P Đ về làm việc tại đây Đ đã lấy gói ma túy ra giao nộp cho Cơ quan Côngan.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐG ngày 20/12/2022 củaHội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: Tạithời điểm xảy ra vụ án tài sản bị thiệt hại gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu YamahaExciter biển số: 82B1 - 460.95, màu xanh, số khung: 0610GY377718, số máy:G3D4E396228 có giá trị thiệt hại tài sản của vụ án là: 19.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số: 07/KL-KTHS-MT, ngày 22/12/2022 củaPhòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B đối với 01 gói ni lonhàn kín là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,7037 gam.
Vật chứng thu giữ và xử lý: Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPOReno, số IMEI T: 869414049427712, IME 2: 869414049427704; 01 điện thoạidi động hiệu Nokia, số IMEI: 357705103359637, màu xanh; số tiền: 716.000đồng; 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác bằng vải dù, mặt ngoài màu xanhnhạt, mặt trong màu xám; 01 phong bì màu trắng đã được niêm phong có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, chữ ký củaông Thượng tá Đỗ Xuân H3, Võ Thanh H4, Đỗ Thị Linh S, vụ số: 07, ngày26/12/2022, hiện Cơ quan CSĐT huyện chuyển Chi cục thi hành án dân sựhuyện chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Tự Bảo T cho biết xe mô tônhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu sơn xanh, biển số: 82B1- 460.95 bịNguyễn Văn Đạt lấy trộm, anh Lê Tự Bảo T1 là anh ruột của anh T đãnhận lại, sau khi nhận lại tài sản anh T và anh T1 không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.
Bản cáo trạng số 67/CT - VKS - XM ngày 20 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
+ Điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng đến 06 (S1) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo: Từ 08 (T) năm đến 09 (C) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng Viện kiểm sát đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì màu trắng được niêm phong có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, cùng các chữ ký: Thượng tá Đỗ Xuân H3, Võ Thanh H4, Đỗ Thị Linh S, vụ số 07 ngày 26/12/2022 là tang vật của vụ án là hàng cấm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Trả lại cho bị cáo:
+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno, số IMEI 1: 869414049427712, IMEI 2: 869414049427704; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI: 357705103359637, màu xanh; số tiền 716.000đ và 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác bằng vải dù, mặt ngoài màu xanh nhạt, mặt trong màu xám.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ nói lời sau cùng: Bản thân bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác cũng như những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Theo đó xác định được rằng:
Vào ngày 14/12/2022 tại khu vực bùng binh xã B, huyện X bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 82B – 460.95 màu xanh của anh Lê Tự Bảo T, sinh năm: 1997 trú tại ấp L, xã B, huyện X để trên vỉa hè, bị cáo chạy xe về huyện Đ, khi đến địa phận xã P, huyện Đ thì xe mô tô bị cáo trộm được hết xăng, nên bị cáo bỏ xe bên đường bỏ đi, sau đó bị Công an phát hiện bắt giữ. Quá trình điều tra thể hiện bị cáo còn có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy với mục đích để sử dụng.
Theo kết luận định giá tài sản số 01/KL – HĐĐG ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: Tạithời điểm xảy ra vụ án tài sản bị thiệt hại gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu YamahaExciter biển số: 82B1- 460.95, màu xanh – trắng, giá trị thiệt hại của tài sản được định giá là 19.500.000đ (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng)
Tại Bản kết luận giám định số: 07/KL-KTHS-MT, ngày 22/12/2022 củaPhòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B đối với 01 gói ni lonhàn kín là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,7037 gam.
Năm 2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng là tái phạm, chưa được xóa án tích nay bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm cho cả 02 tội danh. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ đó, cho thấy bản cáo trạng số 67/CT - VKS ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng mà không phải lao động, nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo vẫn tàng trữ, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là một trong những nguyên nhân là phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, bị cáo có nhân thân xấu từng bị Tòa án xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cần cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Ngoài ra Hội đồng xét xử còn áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích thu lợi bất chính bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- 01 phong bì màu trắng được niêm phong có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, cùng các chữ ký: Thượng tá Đỗ Xuân H3, Võ Thanh H4, Đỗ Thị Linh S, vụ số 07 ngày 26/12/2022 là tang vật của vụ án là hàng cấm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác bằng vải dù, mặt ngoài màu xanh nhạt, mặt trong màu xám là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno, số IMEI 1: 869414049427712, IMEI 2: 869414049427704; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI: 357705103359637, màu xanh; số tiền 716.000đ là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên xét trả lại cho bị cáo.
Đối với H1 và B, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn Đ 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn Đ 05 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành là 08 (T2) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì màu trắng được niêm phong có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, cùng các chữ ký: Thượng tá Đỗ Xuân H3, Võ Thanh H4, Đỗ Thị Linh S, vụ số 07 ngày 26/12/2022;
+ 01 nón lưỡi trai màu đen; 01 áo khoác bằng vải dù, mặt ngoài màu xanh nhạt, mặt trong màu xám
Trả lại cho bị cáo:
+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno, số IMEI 1: 869414049427712, IMEI 2: 869414049427704; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI: 357705103359637, màu xanh; Số tiền 716.000đ (Bảy trăm mười sáu nghìn đồng).
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/7/2023 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).
(Số tiền 716.000đ hiện đang lưu giữ tại tài khoản số 3949.0.1054991.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tại Kho bạc Nhà nước huyện X theo “Giấy nộp tiền vào tài khoản” ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Công an huyện X);
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; + Phòng PC10. + Phòng PV06. - VKSND huyện Xuyên Mộc; - Công an huyện Xuyên Mộc; - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thảo |