vanban.org

Bản án 74/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 11/09/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn anh Trần Hải Đ.

Giao chị Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung Trần Thị Trà M, sinh ngày 06/8/2011; buộc anh Trần Hải Đ đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng từ tháng 9 năm 2023 cho đến khi cháu Trần Thị Trà M tròn 18 tuổi. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hồng V xin ly hôn anh Trần Hải Đ"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn anh Trần Hải Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 11 - 9 - 2023
V/v ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Sinh Thành

Ông Nguyễn Nam Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm ly hôn thụ lý số 115/2022/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2533/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn V, xã Tr, huyện L, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Hải Đ, sinh năm 1986

Địa chỉ trước lúc xuất cảnh: Thôn K, xã Tr, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; hiện trú tại: Tại Đài Bắc, Đài Loan; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toà chị Nguyễn Thị Hồng V (viết tắt là nguyên đơn) trình bày: Nguyên đơn và anh Trần Hải Đ (viết tắt là bị đơn) yêu nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 11 tháng 02 năm 2011. Sau khi kết hôn anh chị sống phúc được gần 05 năm thì bị đơn đi lao động tại Đài Loan (năm 2016), những năm đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc, quan tâm đến cuộc sống gia đình; năm 2019 cho đến nay vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, không còn liên lạc, quan tâm đến đến nhau. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên nguyên đơn xin được ly hôn bị đơn.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung Trần Thị Trà M, sinh ngày 06/8/2011 hiện con chung đang sống với nguyên đơn; sau khi ly hôn nguyên đơn xin được tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu bị đơn đống góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ: Nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo Thông báo số 25078/QLXNC – P5 ngày 22/11/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an thì anh Trần Hải Đ đã xuất cảnh vào ngày 03/01/2018 đến nay chưa nhập cảnh về Việt Nam.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, xin được nuôi 01 con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản và nợ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ thực hiện đúng quy định và đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình xử cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn; Giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi con chung Trần Thị Trà M, sinh ngày 06/8/2011; buộc bị đơn đóng tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng từ tháng 9 năm 2023 cho đến lúc cháu M trưởng thành; tài sản chung và nợ nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưởng nuôi con theo định kỳ.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn làm đơn xin ly hôn bị đơn đang cư trú, lao động tại Đài Loan. Theo Thông báo số 25078/QLXNC – P5 ngày 22/11/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an thì bị đơn đã xuất cảnh ngày 03/01/2018 đến nay chưa nhập cảnh về Việt Nam. Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luât tố tụng năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn. Cụ thể, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã gửi các văn bản tố tụng trực tiếp cho bị đơn và Văn phòng kinh tế, văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc theo quy định của pháp luật (qua đường bưu chính), tại Công điện số 43/2023/CĐ – LS ngày 09/02/2023 của Văn phòng kinh tế, văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết cho bị đơn nhưng chưa nhận được kết quả phản hồi. Tòa án đã Thông báo về việc giải quyết vụ án cho bị đơn trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và trên canh đối ngoại VOV5 Đài tiếng nói Việt Nam nhưng không có hồi âm của bị đơn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[4] Nguyên đơn và bị đơn yêu nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 11 tháng 02 năm 2011 đây là hôn nhân hợp. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bị đơn đi lao động tại Đài Loan. Năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, hai bên không liên lạc. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên nguyên đơn xin được ly hôn bị đơn, Hội đồng xét xử thấy anh chị hiện không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn

[5] Theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thì nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung Trần Thị Trà M, sinh ngày 06/8/2011 hiện con chung đang sống với nguyên đơn; sau khi ly hôn nguyên đơn có nguyện vọng được nuôi con chung và yêu cầu bị đơn đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy bị đơn đang ở nước ngoài, nguyên đơn đang trực tiếp nuôi con và có nguyện vọng tiếp tục nuôi con chung là chính đáng nên chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn và buộc bị đơn đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng từ tháng 9 năm 2023 cho đến khi cháu Trần Thị Trà M tròn 18 tuổi.

[6] Nguyên đơn trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về chi phí tố tụng và án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và 5.000.000 đồng chi phí tố tụng. Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 479 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 3 Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1. Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn anh Trần Hải Đ.

2. Giao chị Nguyễn Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung Trần Thị Trà M, sinh ngày 06/8/2011; buộc anh Trần Hải Đ đóng góp tiền nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng từ tháng 9 năm 2023 cho đến khi cháu Trần Thị Trà M tròn 18 tuổi.

3. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Chị Nguyễn Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và 5.000.000 đồng chi phí tố tụng, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005131 ngày 08/11/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (chị Vang đã nộp đủ tiền án phí và tiền chi phí tố tụng). Anh Trần Hải Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị Nguyễn Thị Hồng V có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/9/2023. Anh Trần Hải Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ