vanban.org

Bản án 74/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Lê Thị T đối với anh Lương Thành V. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Lê Thị T và anh Lương Thành V ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T - Lương Thành V"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S
TỈNH TUYÊN QUANG
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25-8-2023
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quang.

2. Ông Ma Quốc Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.

Ngày 25/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/6/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T – Sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Đội 3, thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lương Thành V – Sinh năm: 1998.

Địa chỉ: Đội 3, thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị T có quan điểm trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh V trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn ngày 18/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống với nhau tại thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và kinh tế gia đình. Chị T và anh V đã sống ly thân từ sau Tết nguyên đán năm 2023 cho đến nay. Chị T xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh V ly hôn với nhau để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T và anh V có một con chung.

Cháu Lương Thảo A – Sinh ngày: 26/3/2019.

Sau khi ly hôn, chị T có quan điểm sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thảo A đến khi cháu Thảo A trưởng thành, đủ 18 tuổi. Đề nghị anh V cấp dưỡng nuôi cháu Thảo A theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo các lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Lương Thành V có quan điểm trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn ngày 18/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống với nhau tại thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và kinh tế gia đình. Anh V và chị T đã sống ly thân với nhau từ sau Tết nguyên đán năm 2023 cho đến nay. Anh V xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên anh nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị T, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị T ly hôn với nhau để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh V và chị T có một con chung.

Cháu Lương Thảo A – Sinh ngày: 26/3/2019.

Sau khi ly hôn, anh V có quan điểm sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thảo A đến khi cháu Thảo A trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ: Anh Lương Thành V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Lê Thị T giữ nguyên quan điểm về việc xin ly hôn và tài sản chung, công nợ. Chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về phần con chung, cụ thể: Chị T có quan điểm sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thảo A đến khi cháu Thảo A trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bị đơn anh Lương Thành V giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về việc giải quyết vụ án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Lê Thị T đối với anh Lương Thành V.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Lê Thị T và anh Lương Thành V ly hôn.

3. Về con chung: Giao cháu Lương Thảo A – Sinh ngày: 26/3/2019 cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Thảo A trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lương Thành V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Lương Thành V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

5. Về án phí; Quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết.

- Về quan hệ tranh chấp: Chị Lê Thị T và anh Lương Thành V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên chị T khởi kiện về việc xin ly hôn với anh V và yêu cầu giải quyết về con chung. Do vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Do đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Lương Thành V có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Lương Thành V xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 18/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau. Lý do mâu thuẫn là do vợ, chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong việc làm ăn kinh tế. Chị T và anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn.

HĐXX thấy rằng, thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh V cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, mâu thuẫn đã kéo dài, không thể khắc phục được nữa, vợ chồng xác đinh tình cảm không còn, không thể hòa giải, hàn gắn để quay về chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh V cũng nhất trí ly hôn với chị T. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và anh V là có căn cứ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T và anh V có một con chung.

Cháu Lương Thảo A – Sinh ngày: 26/3/2019.

Chị T và anh V đều có nguyện vọng muốn nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thảo A.

HĐXX nhận thấy: Cháu Thảo A đang ở độ tuổi còn nhỏ, rất cần sự quan tâm, giáo dục một cách thường xuyên của cha, mẹ để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, sức khỏe và nhân cách. Quá trình nuôi con, chị T và anh V không vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của con. Chị T và anh V có nơi cư trú rõ ràng; công việc, thu nhập ổn định, vẫn đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung ăn học đầy đủ nên đảm bảo được về điều kiện sinh hoạt, học tập cho con. Xét về tính chất công việc: Chị T làm nghề Spa, chăm sóc sắc đẹp và bán mỹ phẩm (chị T thuê nhà mở cửa hàng tại thôn G, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang); công việc của chị T làm tại cửa hàng, không phải đi xa, thời gian làm chủ yếu vào ban ngày nên có thể đảm bảo được thời gian trong việc chăm sóc cháu Thảo A. Anh V làm nghề vận hành xe bơm cần bê tông tươi; công việc của anh V phục vụ các công trình xây dựng, chủ yếu làm việc tại thành phố Hà Nội, thời gian làm việc không cố định (phụ thuộc vào công việc) nên nhiều khi sẽ không đảm bảo được thời gian và thuận tiện trong việc chăm sóc cháu Thảo A (anh V phải đi làm xa nhà).

Từ những phân tích trên, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, để ổn định cuộc sống của cháu Thảo A, cần chấp nhận nguyện vọng của chị T và không chấp nhận nguyện vọng của anh V về nuôi con chung là có căn cứ. Giao cháu Thảo A cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 3 Điều 81; Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Lê Thị T đối với anh Lương Thành V.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Lê Thị T và anh Lương Thành V ly hôn.

3. Về con chung: Giao cháu Lương Thảo A – Sinh ngày: 26/3/2019 cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Thảo A trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 25/8/2023. Anh Lương Thành V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Lương Thành V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số AA/2021/0002848 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Chị Lê Thị T đã nộp đủ tiền án phí).

5. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T và anh Lương Thành V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/8/2023).

Cỡ chữ