- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 9 - 2023 V/v yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Hà Thị Hoà
Ông Phạm Đức Hoàn
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 về yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 61/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị V; sinh năm: 1975; nơi cư trú: Làng B, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Trần Văn D; sinh năm: 1973; nơi cư trú: Làng B, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt chị V, anh D. Chị V đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt không có lý do lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị V trình bày: Chị và anh Trần Văn D đã tổ chức lễ cưới trên tinh thần tự nguyện theo phong tục địa phương vào tháng 05/1992, anh chị chung sống với nhau như vợ chồng tại Làng B, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống, chị và anh D có hai con chung. Chị và anh D chung sống hoà thuận từ khi cưới đến năm 2000 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Từ năm 2016 cho đến nay, chị và anh D tuy sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai. Do thời gian chung sống, anh chị bận công việc, thường xuyên đi làm và không am hiểu pháp luật nên mặc dù chung sống với nhau như vợ chồng đã lâu nhưng vẫn chưa đến Uỷ ban nhân dân xã làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Toà án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh D.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Trần Văn S, sinh ngày 09/4/1993 và cháu Trần Văn T, sinh ngày 09/02/1996. Hiện cháu T đã thành niên, có khả năng lao động. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu S đã thành niên nhưng cháu bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu S. Không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị V không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Trần Văn D để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị V nhưng anh D không có mặt nên không có lời khai của anh D và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị V đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh D không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 14; 15; 51; 53; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị V và anh Trần Văn D. Giao cháu Trần Văn S, sinh ngày 09/4/1993 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dũng không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng:
Chị Lê Thị V khởi kiện yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với anh Trần Văn D, nơi cư trú tại Làng B, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 7, 8 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh D không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh D theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.
Anh D đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh D đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Chị Lê Thị V đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Trần Văn D lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh D vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị V, anh D.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Trần Văn D đã tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào tháng 05/1992, chung sống với nhau như vợ chồng và có hai con chung. Chị V và anh D có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Trong cuộc sống, chị V và anh D xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Từ năm 2016 cho đến nay, chị V và anh D tuy sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai. Chị V yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh D. Căn cứ khoản 1 Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị V và anh Trần Văn D.
Về con chung: Chị V và anh D có 02 con chung. Hiện các cháu đã thành niên. Cháu T có khả năng lao động. Chị V không yêu cầu nên không xem xét.
Xét thấy, cháu S bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu. Chấp nhận yêu cầu của chị V, giao cháu S cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị V, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị V không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 14; 15; 51; 53; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị V và anh Trần Văn D.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Văn S, sinh ngày 09/4/1993 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dũng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Dũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lê Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000645 ngày 31/7/2023. Chị V đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Chị V, anh D có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện; - UBND xã Phúc Thịnh; - Chi cục THADS huyện; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Lưu HSVA; Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thịnh |