- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự Sơ thẩm số 74 Nguyễn Ngọc P - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HS-ST Ngày 03 - 10 - 2023. |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hán Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm theo thủ tục rút gọm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2023 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1971, tại xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu X, xã , huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá N (đã chết), con bà Hà Thị N, sinh năm 1934; bị cáo có vợ là Phạm Thị T, sinh năm 1976 và 02 người con; con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền sự; tiền án: Không.
Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/7/2023 đến ngày 11/7/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện nay đAg tại ngoại tại xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
2. Người bị hại: Ông Hà Viết A, sinh năm 1990
Nơi công tác: Cán bộ phòng P Công an, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 02/7/2023, tại Km9 +200 tỉnh Lộ 313 đoạn thuộc khu S, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác chuyên đề tuần tra, kiểm soát xử lý các hành vi vi phạm trật tự, A toàn giao thông theo Quyết định số 2672/QĐ-CAT-PX01 ngày 19/5/2023 của Giám đốc Công A tỉnh Phú Thọ và Kế hoạch số 30 ngày 26/6/2023 của Công A huyện Cẩm Khê gồm 06 đ/c gồm:
Tổ trưởng: Đ/c Nguyễn Ngọc H - Phó đội trưởng đội CSGT Công A huyện ThAh Thủy.
Tổ viên: Đ/c Nguyễn Đức T - Cán bộ đội CSGT Công A huyện Cẩm Khê; Đ/c Trần Xuân Tu - Cán bộ đội CSGT Công A huyện Cẩm Khê; Đ/c Hà Viết A - Cán bộ phòng Pk02 Công A tỉnh Phú Thọ; Đ/c Đào Việt Ah -Cán bộ đội ĐTTH Công A huyện Cẩm Khê; Đ/c Nguyễn Công Tn - Cán bộ đội CSĐT về kinh tế, ma túy Công A huyện Cẩm Khê.
Thực hiện chuyên đề kiểm tra nồng độ cồn theo kế hoạch đã được phê duyệt. Quá trình thực hiện, tổ công tác đã dừng 02 P tiện để kiểm tra. Gồm:
+ 01 xe mô tô BKS: 19G1-140799 do Ah PhA Văn D, sinh năm 1975, chỗ ở khu A Phú, xã Y, huyện C điều khiển chở theo sau là Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1971 ở khu X, xã S, huyện C. Cả 02 người đều không đội mũ bảo hiểm. Kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Ah Duy có kết quả là 0,573mg/L khí thở.
+ 01 xe máy điện BKS: 19MĐ7-02583 do Ah Phạm Ngọc T, sinh năm 1981 ở khu Đ, xã P huyện C điều khiển không đội mũ bảo hiểm, kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở Ah T có kết quả là 0,168mg/L khí thở.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, biên bản tạm giữ và niêm phong 02 P tiện vi phạm hành chính trên. Sau khi lập biên bản thì Ah PhA Văn Duy và Phạm Ngọc Tun không ký vào biên bản, Nguyễn Ngọc P có hành vi chửi bới, cản trở tổ công tác. Khi tổ công tác cho chiếc xe máy điện BKS 19MĐ7-02583 lên thùng xe ô tô chuyên dụng của Cảnh sát giao thông BKS: 19A-01259 thì P đã ngăn cản, định trèo lên thùng xe thì bị tổ công tác cA ngăn. Tuy nhiên P vẫn cố tình dùng tay xé đai niêm phong của xe máy điện BKS 19MĐ7-02583. Tổ công tác đã áp sát, kéo P xuống đường thì P đã chống đối, dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng mặt bên phải đồng chí Hà Viết A. Ngay sau đó tổ công tác đã khống chế đối tượng P, báo cáo lãnh đạo Công A huyện Cẩm Khê. Vật chứng thu giữ tại hiện trường:
01 (một) lọ keo dán giấy vỏ màu trắng, nắp màu xAh đã qua sử dụng.
03 (ba) đai niêm phong P tiện giao thông bị tạm giữ đã bị vo nhăn.
01 (một) bộ đàm màu đen nhãn hiệu MOTOROLA đã qua sử dụng.
01 (một) đôi dép giả da màu đen đã qua sử dụng.
01 (một) chiếc mũ cối màu xAh, đã qua sử dụng.
01 (một) xe máy điện BKS: 19MĐ7-02583 nhãn hiệu SUNY, màu xAh, xe đã qua sử dụng.
Sau khi báo cáo của tổ công tác, Cơ quA CSĐT Công A huyện Cẩm Khê đã có mặt tại hiện trường cùng tổ công tác đưa Nguyễn Ngọc P đến Ủy bA nhân dân xã H, sau đó lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tAg đối với Nguyễn Ngọc P về hành vi chống người thi hành công vụ.
Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 01 giờ 58 phút ngày 03/7/2023 kết quả: nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Ngọc P là 0,627mg/l khí thở.
Tại biên bản xác định thương tích bA đầu của đồng chí Hà Viết A tại Trung T y tế huyện Cẩm Khê xác định: Tại mắt phải của Hà Viết A có sưng nề, tím nhẹ xuất huyết kết mạc.
Ngày 04/7/2023, Cơ quA CSĐT Công A huyện Cẩm Khê đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ah Hà Viết A là bao nhiêu?
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 120/KLTTCT/TTPY ngày 05/7/2023 của Trung T pháp y – Sở y tế tỉnh Phú Thọ kết luận: Căn cứ Thông tư số: 13/2022/TT-BYT ngày 30/11/2022 của Bộ trưởng Bộ y tế bA hành quy trình, biểu mẫu, thời giA, nhân lực thực hiện giám định pháp y. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y T thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Viết A tại thời điểm giám định: vùng thái dương bên phải và đuôi mắt bên phải không để lại tổn thương gì nên Trung T pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Lời khai của P khi bắt quả tAg và tại Cơ quA điều tra phù hợp lời khai của đồng chí Hà Viết A và thành viên tổ công tác, người làm chứng về thời giA, địa điểm, về hành vi dùng tay đánh vào mặt đồng chí Hà Viết A và phù hợp với vật chứng thu giữ.
Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ kết luận: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 02/7/2023 tại đường tỉnh Lộ 313 đoạn thuộc khu S, xã H – C – Phú Thọ, Nguyễn Ngọc P đã có hành vi dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng mặt bên phải của đồng chí Hà Viết A là cán bộ của Tổ tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ để cản trở đồng chí Hà Viết A thực hiện công vụ của Tổ tuần tra.
Tại cơ quA điều tra, P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với hành vi, diễn biến, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKSCK ngày 18/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội: “Chống người thi hành công vụ”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội: “Chống người thi hành công vụ” và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ từ ngày 03/7/2023 đến ngày 11/7/2023, quy đổi 09 ngày tạm giữ bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P tính từ ngày Cơ quA thi hành án hình sự Công A huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời giA cải tạo không giam giữ. Thời giA lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
Khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Ngọc P.
Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 lọ keo dán giấy vỏ màu trắng, nắp màu xAh đã qua sử dụng và 03 đai niêm phong P tiện giao thông bị tạm giữ đã bị vo nhăn không còn giá trị sử dụng để tiêu huỷ.
Về xử lý vật chứng: Ngày 21/7/2023, cơ quA điều tra Công A huyện Cẩm Khê đã trả lại vật chứng gồm 01 bộ đàm màu đen, nhãn hiệu MOTOROLA cho Tổ tuần tra, kiểm soát giao thông Công A huyện Cẩm Khê và trả lại cho Nguyễn Ngọc P 01 đôi dép giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ cối màu xAh và 01 xe máy điện BKS 19MĐ7-02583 nhãn hiệu SUNY, màu xAh là đúng pháp luật cần xác nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Hà Viết A không đề nghị bị cáo P phải bồi thường thiệt hại gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tham gia trAh luận đối với bản luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A huyện Cẩm Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
. Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 02/7/2023 tại đường tỉnh Lộ 313 đoạn thuộc khu Suông 1, xã Hương Lung - Cẩm Khê – Phú Thọ, Nguyễn Ngọc P đã có hành vi dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng mặt bên phải của đồng chí Hà Viết A là cán bộ của Tổ tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ để cản trở đồng chí Hà Viết A thực hiện công vụ của Tổ tuần tra. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc P đủ yếu tố cấu thành tội Chống người thi hành công vụ, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKSCK ngày 18/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc P là đúng người, đúng tội.
Khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo thực hiện lỗi cố ý; tính chất của hành vi phạm tội là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo xâm phạm trật tự quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ, nên hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm.
. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo giúp việc điều tra được thuận lợi và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục, phòng ngừa chung và đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
. Về khấu trừ thu nhập:
Khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự quy định: Trong thời giA chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Xét thấy: Nghề nghiệp chính của bị cáo là lao động tự do, không có nguồn thu nhập ổn định và thu nhập thấp, nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo P.
. Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
Vật chứng 01 bộ đàm màu đen, nhãn hiệu MOTOROLA cho Tổ tuần tra, kiểm soát giao thông Công A huyện Cẩm Khê và trả lại cho Nguyễn Ngọc P 01 đôi dép giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ cối màu xAh và 01 xe máy điện BKS 19MĐ7-02583 nhãn hiệu SUNY, màu xAh. Xét thấy việc cơ quA điều tra Công A huyện Cẩm Khê xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật cần xác nhận.
Vật chứng là 01 lọ keo dán giấy vỏ màu trắng, nắp màu xAh đã qua sử dụng và 03 đai niêm phong P tiện giao thông bị tạm giữ đã bị vo nhăn chuyển đến cơ quA thi hành án Dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ ngày 18/8/2023 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu huỷ.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là đồng chí Hà Viết A có quA điểm không yêu cầu xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P.
Tu bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 03/7/2023 đến ngày 11/7/2023), quy đổi 09 (Chín) ngày tạm giữ bằng 27 (Hai mươi bẩy) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P tính từ ngày Cơ quA thi hành án hình sự Công A huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc P cho Ủy bA nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong thời giA cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy bA nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án trong thời giA cải tạo không giam giữ.
Trong thời giA chấp hành hình phạt, bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời giA cải tạo không giam giữ. Thời giA lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. (Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng theo quy định người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng).
Trong thời giA cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Ngọc P.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xác nhận cơ quA điều tra Công A huyện Cẩm Khê đã trả lại vật chứng gồm 01 bộ đàm màu đen, nhãn hiệu MOTOROLA cho Tổ tuần tra, kiểm soát giao thông Công A huyện Cẩm Khê và trả lại cho Nguyễn Ngọc P 01 đôi dép giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ cối màu xAh và 01 xe máy điện BKS 19MĐ7-02583 nhãn hiệu SUNY, màu xAh. (Theo biên bản trả lại tài sản, đồ vật ngày 21/7/2023).
Tịch thu 01 lọ keo dán giấy vỏ màu trắng, nắp màu xAh đã qua sử dụng và 03 đai niêm phong P tiện giao thông bị tạm giữ đã bị vo nhăn không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu huỷ (theo biên bản giao vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ ngày 18/8/2023).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo:
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tu án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo; Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Cẩm Khê; - Thi hành án hình sự; - Thi hành án dân sự; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu HS+VP; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hán Hưởng |