vanban.org

Bản án 74/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tòng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Tòng L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/6/2022 . Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Tòng L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tòng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2022/HS-ST
Ngày: 22-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đang

2. Bà Đinh Thu Hương

- Thư ký Tòa án: bà Lê Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Tòng L, sinh ngày 28/5/1986 tại huyện GV, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn TP, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Tòng L và con bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: bị xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 419 ngày 19/6/2018 của Công an huyện Gia Viễn, thi hành xong ngày 07/10/2022; nhân thân: (1) bị xử phạt 29 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự số thẩm số 154/HSST ngày 25/6/2013 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội chấp hành xong ngày 05/7/2015 (đã được xóa án tích); (2) bị xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự số thẩm số 124/HSST ngày 26/10/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2019 (đã được xóa án tích); (3) bị xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép tài sản của người khác theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41 ngày 18/03/2010 của Công an huyện Gia Viễn, thi hành xong 19/03/2011 (đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị tạm giữ từ ngày 07/6/2022 đến ngày 16/6/2022 chuyển tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Phạm Văn Q (vắng mặt)

+ Chị Trịnh Thị T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 7/6/2022, tổ công tác Công an xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp tiến hành kiểm tra cư trú tại gia đình chị Trịnh Thị T, sinh năm 1988, tại thôn A, xã ĐS, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình. Quá trình kiểm tra phát hiện Nguyễn Tòng L đang ngồi trên giường bên cạnh bàn uống nước kê trong quán bán hàng tạp hóa của gia đình chị T, ở trên giường ngay cạnh vị trí Nguyễn Tòng L ngồi để 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Tổ công tác hỏi về bao thuốc lá Thăng Long thì Nguyễn Tòng L nhặt bao thuốc lá lên giao nộp và khai nhận bản thân là người sử dụng trái phép chất ma túy, túi nilon nhỏ màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng để ở bao thuốc lá là túi ma túy của L và 01 người bạn tên H không rõ địa chỉ cụ thể mua của một người đàn ông không quen biết tại xã ĐS, thành phố TĐ để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác kiểm tra bao thuốc lá Thăng Long do L giao nộp, bên trong có 04 điếu thuốc, tại vị trí giữa vỏ túi nilon bọc ngoài bao thuốc và vỏ bao thuốc có 01 túi nilon màu trắng, viền xanh 01 đầu, kích thước (2,5x3) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, đã tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định. Sau đó tiến hành lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng và biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tòng L. Quá trình kiểm tra, tổ công tác còn thu giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony không có nắp, được ốp bằng ốp viền đen, mặt màu hồng trắng, bên trong lắp 01 sim Vinaphone.

Cùng ngày Công an xã Đông Sơn chuyển vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp lấy chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Tòng L ký hiệu M gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 437/KL-KTHS-MT ngày 15/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3865 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, số thứ tự 323 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Tòng L đã khai nhận toàn bộ hành vi đem theo chất ma túy để sử dụng với thì bị công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 77/CT – VKS ngày 03 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Tòng L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tòng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tòng L từ 24 đến 30 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: toàn bộ số vật chứng đã thu giữ, bao gồm: số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao gói niêm phong, vỏ túi ni lon vỏ bao thuốc lá và 04 điếu thuốc đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tòng L đã khai nhận khoảng 16 giờ 00 phút ngày 7/6/2022, tại quán bán tạp hóa của gia đình chị Trịnh Thị T ở thôn 4C, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Tòng L có hành vi mang theo người 0,3865 gam ma túy Methamphetamine đựng trong túi nilon nhỏ màu trắng, tất cả được bỏ trong bao thuốc lá Thăng Long để sử dụng cho bản thân thì bị bắt giữ. Bị cáo thừa nhận bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Những người làm chứng trong quá trình điều tra đều khai báo 16 giờ 00 phút ngày 7/6/2022, tại quán bán tạp hóa của gia đình chị Trịnh Thị T ở thôn 4C, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã được chứng kiến Công an kiểm tra đối với bị cáo Nguyễn Tòng L và thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long do L giao nộp, bên trong có 04 điếu thuốc và 01 túi nilon màu trắng, viền xanh 01 đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng bị cáo khai là ma túy mang theo để sử dụng cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 7/6/2022, tại quán bán tạp hóa của gia đình chị Trịnh Thị T ở thôn 4C, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Tòng L có hành vi tàng trữ trái phép 0,3865 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi mang theo chất ma túy để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Khối lượng ma túy Methamphetamine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo Nguyễn Tòng L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, phạm tội trong thời gian có tiền sự, ngoài ra trước đó đã nhiều lần vi phạm pháp luật hình sự bị kết án đã được xóa án tích, pháp luật hành chính bị xử phạt hành chính đến nay đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử phạt hành chính.

Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và nhân thân của bị cáo thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony, bên trong lắp 01 sim Vinaphone đã tạm giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, vỏ bao gói niêm phong, vỏ túi ni lon, vỏ bao thuốc lá và 04 điếu thuốc là vật không còn giá trị nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Tòng L khai đã cùng với người tên H mua của 01 người đàn ông lạ mặt ở xã ĐS, nhưng bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ của H và không biết lai lịch địa chỉ của người đàn ông bán ma túy nên không đủ căn cứ điều tra, làm rõ nên không có cơ sở để xử lý là có căn cứ.

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Tòng L bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tòng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Tòng L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/6/2022 .

3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn theo đúng thủ tục pháp luật, bên ngoài ghi số 437/KL-KTHS-MT. Vụ Nguyễn Tòng L, sinh năm 1986, xảy ra ngày 7/6/2022 tại xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M = 0,3185 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;

- 01 phong bì giấy dán kín mép, niêm phong theo đúng pháp luật bên ngoài ghi vật chứng còn lại: 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền xanh 01 đầu KT (2,5x3)cm, 1 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong vật chứng thu giữ ban đầu của Nguyễn Tòng L;

- 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 04 điếu thuốc

(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09/11/2022 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)

4. Về án phí: bị cáo Nguyễn Tòng L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ