vanban.org

Bản án 74/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2022/HS-ST
Ngày: 28-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hải.

2. Ông Nguyễn Hồng Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thanh và ông Huỳnh Hữu Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trung H, sinh năm 1982, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số A, đường B, t C, khóm D, Phường E1, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Hiếu L và bà Nguyễn Thị Bích Th; Có vợ tên Võ Thị Hồng S, sinh năm 1987 và có 01 người con sinh năm 2010; Tiền sự: Không, Tiền án: 03,

+ Ngày 06/05/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 58/2015/HSST, chấp hành hình phạt xong ngày 21/01/2016.

+ Ngày 22/7/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 45/2016/HSST, chấp hành hình phạt xong ngày 27/04/2018.

+ Ngày 22/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 15/2019/HS-ST, (lần phạm tội này đã áp dụng tái phạm nguy hiểm) chấp hành hình phạt xong ngày 30/8/2021.

Đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long trong vụ án khác theo Lệnh tạm giam số 41/LTG, ngày 04/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Lê Nguyễn Đăng K, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Cư trú: Số A1, đường B1, Phường C1, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

2. Mai Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cư trú Số A1, đường B1, Phường C1, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

3. Lê Thị L, sinh năm 1961 (vắng mặt).

Cư trú: Số A2, đường B2, Phường C2, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị Bích Th, sinh năm 1960 (có mặt). Nơi cư trú: Số A, đường B, t C, khóm D, Phường E1, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng: Bùi Nhật Tiên, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Cư trú: Số A3, đường B3, Phường C3, thành phố E, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/3/2022, Nguyễn Trung H một mình điều khiển xe mô tô biển số 86T1-2552 từ nhà Số A, đường B, t C, khóm D, Phường E1, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp ra đường Phạm Hữu L để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến ngã tư TVH thì H dừng xe trước cửa hàng tạp hóa “N” của chị Lê Thị L sinh năm 1961, ngụ Số A2, đường B2, Phường C2, thành phố E. H quan sát không thấy người trông coi nên lén lút lấy trộm 02 thùng bia hiệu SAIGON SPECIAL và 01 thùng bia hiệu SAIGON LAGER để trên xe tẩu thoát về hướng phường C, thành phố E thì bị T tuần tra Công an phường C2 kết hợp Đội CSĐT tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an thành phố E phát hiện, bắt giữ và lập biên bản phạm tội quả tang cùng tang vật phạm tội gồm: 02 thùng bia hiệu SAIGON SPECIAL và 01 thùng bia hiệu SAIGON LAGER; 01 xe mô tô nhãn hiệu ATTILA, màu đỏ, biển số 86T1-2552; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 điện thoại di động hiệu Nokia; tiền 1.470.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 128/KL-KLHĐĐGTS ngày 14/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết luận: 02 thùng bia hiệu Sài Gòn SPECIAL, mỗi thùng 24 Lon, có giá 300.000 đồng/thùng; 01 thùng bia hiệu Sài Gòn LAGER, mỗi thùng 24 Lon, có giá 250.000 đồng/thùng, t ng trị giá là 850.000 đồng. Đây là tài sản thuộc sở hữu của chị Lê Thị L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố E đã trao trả lại cho chị L xong.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trung H còn khai nhận thực hiện 02 lần trộm tài sản khác. Cụ thể:

- Lần 1: Khoảng 08 giờ ngày 07/3/2022, H điều khiển xe mô tô biển số 86T1-2552 chạy từ nhà đến đường T thì phát hiện xe mô tô biển số 66C1-407.66 đỗ trước cửa tiệm “Salon Thanh Tuyền 2” ngụ số A, đường B, khóm C, phường D, trên xe có mắc 01 túi xách, quan sát không có người trông coi nên áp sát xe vào rồi dùng tay phải lấy trộm túi xách của anh Lê Nguyễn Đăng K, sinh năm 1997, ngụ ấp A, xã B, huyện C tẩu thoát. Sau đó, H kiểm tra bên trong có 01 điện thoại hiệu OPPO bị nứt màn hình, 01 pin xạc dự phòng, 01 bật lửa và các giấy tờ cá nhân khác. Do nhận thấy các tài sản trên không có giá trị nên H đã ném bỏ xuống đường gần đó rồi bỏ đi.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 129, ngày 14/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết luận: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, trị giá 1.500.000 đồng. Đối với chiếc túi xách, 01 pin xạc dự phòng, 01 bật lửa không thu giữ được do không rõ đặc điểm, chủng loại nên không đủ căn cứ để trưng cầu định giá.

- Lần 2: Khoảng 13 giờ ngày 08/3/2022, H điều khiển xe mô tô biển số 86T1-2552 chạy từ nhà đến đường THD, quan sát thấy tiệm tập hóa “M” địa chỉ số A1, đường B1, phường C1, thành phố E, không người trong coi nên dừng xe lại lấy trộm 03 thùng bia hiệu Tiger bạc và 02 thùng bia hiệu Heineken bạc của anh Mai Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1988, ngụ khóm C, phường D, thành phố E, để lên xe chạy đến cầu NVT qua đường B thuộc phường C2, thành phố E bán cho người thanh niên lạ được số tiền 1.800.000 đồng, tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 131, ngày 14/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết luận: 03 thùng bia hiệu TIGER loại bạc, mỗi thùng 24 Lon, có giá 400.000 đồng/thùng; 02 thùng bia hiệu HEINEKEN loại bạc, mỗi thùng 24 Lon, có giá 450.000 đồng/thùng, t ng trị giá tài sản là 2.100.000 đồng.

Như vậy, H đã 03 lần trộm cắp tài sản với t ng trị giá tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là 4.450.000 đồng; trong đó có một lần chiếm đoạt tài sản có trị trên hai triệu đồng.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ATILA, màu đỏ, biển số 86T1-2552 do anh Nguyễn Sỹ V, sinh năm 1983, ngụ Thôn 5, xã H, huyện HTB, tỉnh Bình Thuận đứng tên chủ sở hữu, cơ quan điều tra đã có văn bản ủy thác điều tra, xác minh ghi lời khai anh V nhưng chưa có kết quả. Quá trình điều tra, Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Bích Th (mẹ ruột bị can) khai nhận, xe mô tô trên do bà Th mua lại của người khác chưa sang tên để làm phương tiện đi lại thiết yếu trong gia đình, việc H tự ý lấy xe sử dụng làm phương tiện phạm tội bà Th không biết nên cơ quan điều tra đã tách hồ sơ cùng phương tiện, giao lại xe cho bà Th quản lý làm phương tiện đi lại khi nào có kết quả ủy thác sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone, 01 điện thoại hiệu Nokia; tiền 1.470.000 đồng, đây là tài sản của Nguyễn Thị Bích Th đưa cho H mượn sử dụng và để sửa điện thoại nên đã trả lại cho bà Th xong.

- Đối với 03 thùng bia hiệu Tiger bạc và 02 thùng bia hiệu Heineken bạc bị can H lấy trộm của anh Mai Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1988, ngụ khóm C, phường D, thành phố E. Do H đã bán cho người lạ không rõ nhân thân nên không tìm lại được.

- Đối với điện thoại nhãn hiệu OPPO và các tài sản, giấy tờ cá nhân khác của anh Lê Nguyễn Đăng K, sinh năm 1997, ngụ ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, do H khai ném bỏ tại địa điểm không xác định nên không truy tìm được.

Ngoài ra, trong thời gian tại ngoại để điều tra Nguyễn Trung H còn bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Long khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tội Trộm cắp tài sản và bắt tạm giam. Ngày 19/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố E có công văn số 369/CQĐT về việc tiếp nhận hồ sơ vụ án trộm cắp tài sản nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L có văn bản từ chối nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố E đã tách ra giải quyết riêng.

Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, lời khai của những người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSTPCL, ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Trung H, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H với mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận và bị hại nhận tiền bồi thường xong.

Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; ăn năn, hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Nguyễn Thị Bích Th không có ý kiến tranh luận, không yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Nguyễn Trung H là người đã có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Vào ngày 07/03/2022, Nguyễn Trung H đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đỏ của anh Lê Nguyễn Đăng K trị giá 1.500.000 đồng; ngày 08/3/2022 H lén lút trộm 03 thùng bia hiệu Tiger loại bạc và 02 thùng bia hiệu Heineken loại bạc của anh Mai Nguyễn Hoàng T trị giá là 2.100.000 đồng; ngày 09/3/2022 H đã lén lút trộm 02 thùng bia hiệu SAIGON SPECIAL và 01 thùng bia hiệu SAIGON LAGER của chị Lê Thị L trị giá 850.000 đồng thì bị phát hiện, bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng tang vật. T ng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 4.450.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác; bị cáo H là người đã có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chỉ vì mục đích vụ lợi bị cáo lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu, người quản lý tài sản và đã 03 lần lén lút trộm cắp tài sản vào ngày 07, 08, 09/3/2022 của 03 bị hại là Lê Nguyễn Đăng K trị giá tài sản là 1.500.000 đồng, Mai Nguyễn Hoàng T trị giá tài sản là 2.100.000 đồng và Lê Thị L trị giá tài sản là 850.000 đồng, t ng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 4.450.000 đồng.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Trung H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) …

g) Tái phạm nguy hiểm”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

- Tình tiết tăng nặng: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho bị hại xong; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì nên không xem xét.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc túi xách, 01 pin xạc dự phòng, 01 bật lửa và một số giấy tờ kinh doanh của anh Khoa; quá trình điều tra không thu giữ được và anh K không yêu cầu do không còn giá trị, giấy tờ anh K tự làm lại được nên không xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ATILA, màu đỏ, biển số 86T1-2552 do anh Nguyễn Sỹ V đứng tên chủ sở hữu. Bà Th mua lại xe này của người khác chưa sang tên mục đích để làm phương tiện đi lại, thiết yếu trong sinh hoạt gia đình, việc H tự ý lấy xe sử dụng làm phương tiện phạm tội bà Th không biết. Cơ quan điều tra đã có văn bản ủy thác điều tra, xác minh ghi lời khai anh V nhưng chưa có kết quả nên tách ra và giao lại xe cho bà Th quản lý làm phương tiện đi lại khi nào có kết quả ủy thác sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone và tiền 1.470.000 đồng của bà Th đưa cho H để đi sửa điện thoại; 01 điện thoại hiệu Nokia của bà Th cho H mượn để bà Th liên lạc với H nên ngày 31/8/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trả lại cho bà Th xong là phù hợp.

- Đối với 02 thùng bia hiệu SAIGON SPECIAL và 01 thùng bia hiệu SAIGON LAGER là tài sản của chị Lê Thị L nên ngày 14/4/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phốE đã trả lại cho chị L xong là phù hợp.

Các vấn đề khác: Trong thời gian tại ngoại để điều tra Nguyễn Trung H bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Long khởi tố vụ án và khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” và bắt tạm giam. Ngày 19/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố E có công văn số 369/CQĐT về việc tiếp nhận hồ sơ vụ án trộm cắp tài sản nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L có văn bản từ chối và hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo H ngày 07, 08, 09/3/2022 và lần trộm cắp tài sản ngày 29/7/2022 không liên tiếp nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã tách ra giải quyết riêng là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ