- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ly A C và Giàng A B - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Ly A C, Giàng A B phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2022/HS-ST Ngày: 11-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khanh.
Thẩm phán: Ông Lò Văn Lịch.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hải.
Ông Hồ Trung Kiên.
Bà Lò Thị Thúy Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2022/TLST-HS, ngày 13 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Ly A C (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/01/2002, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản B, xã U, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ly A Ch, sinh năm 1980 và bà Hạng Thị N, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 và bị tạm giam từ ngày 18/02/2022 tại Trại tạm giam C an tỉnh Điện Biên cho đến nay. Có mặt.
2. Giàng A B (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/5/2003, tại tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản A1, xã K, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A Ch, sinh năm 1981 và bà Vàng Thị S, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 và bị tạm giam từ ngày 18/02/2022 tại Trại tạm giam C an tỉnh Điện Biên cho đến nay. Có mặt.
- Những người bào chữa cho các bị cáo:
1. Người bào chữa cho bị cáo Ly A C: Bà Lê Thị Xuân, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).
2. Người bào chữa cho bị cáo Giàng A B: Bà Lò Thị Xuyến, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Giàng A Chịa, sinh ngày 20/8/2004. Địa chỉ: Bản Huổi Hoa A1, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
- Người đại diện theo pháp luật của cháu Giàng A Chịa: Ông Giàng A Chống, sinh ngày 10/9/1991. Địa chỉ: Bản Huổi Hoa A1, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
2. Bà Hạng Thị Nếnh, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản Tà Té B, xã Nong U, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (có mặt).
3. Anh Giàng A Pó, sinh năm 2000. Địa chỉ: Bản Tin Lán, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 09/8/2022).
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số nhà 368, tổ dân phố 6, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 09/8/2022).
- Người phiên dịch: Ông Giàng A Chù, sinh năm 2000. Địa chỉ: Đội 19, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết từ trước, ngày 12/02/2022 Ly A C nhận được cuộc gọi qua ứng dụng Messenger của Thào A Sùng sinh năm 1996, trú tại Gia Phú B, xã Na Tông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Sùng thuê C đi nhận ma túy tại khu vực xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên vận chuyển đến khu vực qua cầu kính rồng mây thuộc địa phận tỉnh Lào Cai giáp danh huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, tiền C là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), khi vận chuyển xong ma túy Sùng sẽ trả thêm tiền C cho C. Sùng hẹn C ngày 15/02/2022 đến khu vực bản Trung Sua, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông hướng đi vào bản Háng Lia để nhận ma túy, khi nào vận chuyển ma túy đến khu vực cầu kính rồng mây, Sùng sẽ gửi số điện thoại của người nhận ma túy cho C để liên hệ giao ma túy. Sau đó C gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Hoàng Nguyễn Nam, sinh năm 2001, cư trú tại bản Phiêng Ngám, xã Pu Nhi, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên thuê Nam vận chuyển ma túy từ khu vực xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên đến khu vực qua cầu kính rồng mây thuộc địa phận tỉnh Lào Cai giáp danh huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, tiền C là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), khi Nam vận chuyển ma túy đến khu vực qua cầu kính rồng mây, C sẽ gửi số điện thoại của người nhận ma túy cho Nam để liên hệ giao ma túy. Nhưng Nam chỉ nhận vận chuyển ma túy từ thành phố Điện Biên Phủ, C và Nam thỏa thuận tối ngày 15/2/2022 khi C vận chuyển ma túy đến phòng trọ Nam đang ở thuộc tổ dân phố 6, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, C và Nam sẽ thống nhất cụ thể về giá thuê và hình thức vận chuyển ma túy.
Ngày 15/02/2022 C gọi điện thoại cho Phàng A Vư sinh năm 1996, trú tại bản Dư O B, xã Nong U, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên thuê Vư vận chuyển ma túy cùng Hoàng Nguyễn Nam và hẹn Vư tối ngày 15/02/2022 gặp nhau tại thành phố Điện Biên Phủ để thống nhất giá thuê và hình thức vận chuyển ma túy. Khoảng 12 giờ cùng ngày C gọi điện thoại hẹn gặp Giàng A B sinh năm 2003, trú tại bản Huổi Hoa A1, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, đến khoảng 14 Sùng gửi số điện thoại của người giao ma túy cho C, C điều khiển xe máy đến gặp B tại đường gần nhà B, C đặt vấn đề thuê B vận chuyển ma túy từ khu vực đầu bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên đến thành phố Điện Biên Phủ tiền C là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). C và B mỗi người điều khiển 01 xe máy đi đến đoạn đường qua đầu bản Trung Sua hướng đi vào bản Háng Lia, xã Keo Lôm thì dừng lại, C đưa số điện thoại của người giao ma túy cho B, C đứng lại chờ, B điều khiển xe máy tiếp tục đi khoảng 2 km gọi điện thoại cho người giao ma túy thì được một người phụ nữ nghe điện thoại hướng dẫn đi đến đoạn đường đầu bản Háng Lia, xã Keo Lôm, B điều khiển xe máy đến điểm hẹn gặp một người phụ nữ dân tộc Mông nhận 02 túi xách ma túy màu xanh, trong đó một túi có chữ asidas; một túi có chữ NIKE, giao ma túy xong người phụ nữ đi về phía bản Háng Lia. Nhận được ma túy, B mở ra xem thấy bên trong hai túi xách màu xanh có các bánh ma túy Methamphetamine, xem xong B để 02 túi ma túy lên giá để hàng phía trước xe máy quay lại vị trí C đang chờ. Sau đó, C và B vận chuyển ma túy đi xuống thành phố Điện Biên Phủ, C đi trước kiểm tra đường, B vận chuyển ma túy đi phía sau, khoảng 19 cùng ngày đến thành phố Điện Biên Phủ, C gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Hoàng Nguyễn Nam thì được Nam hẹn giao ma túy tại phòng trọ Nam đang ở thuộc tổ dân phố 6 phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnhĐiện Biên. C và B mỗi người xách 01 túi ma túy đến phòng trọ thì gặp Vàng A Chua sinh năm 2000, cư trú tại bản Keo Lôm 3, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông đi ra, trong phòng trọ có Giàng A Tú sinh năm 2003, cư trú tại bản Tìa Mùng B, xã Nong U, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. C và B để hai túi xách ma túy vào gầm giường trong phòng trọ số 6, số nhà 368 của gia đình ông Nguyễn Văn Quang thuộc tổ 6, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ; sau đó C, B, Tú chuẩn bị đi ăn cơm thì có lực lượng C an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu hai túi xách ma túy của C và B cất giấu trong gầm giường phòng trọ bên trong có 30 bánh ma túy có dạng các viên nén màu hồng, tổng khối lượng 16.682,99 gam.
Tại bản Kết luận giám định số: 422/KL-KTHS ngày 18/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - C an tỉnh Điện Biên kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Ly A C, Giàng A B là 16.682,99 gam.
- 900 (chín trăm) mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Ly A C, Giàng A B gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS-P1 ngày 13/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố Ly A C và Giàng A B để xét xử về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, Điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 40; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Ly A C tử hình và xử phạt bị cáo Giàng A B tử hình. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy: 16.277,99 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định và 02 túi xách màu xanh.
* Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen.
* Trả lại cho bà Hạng Thị Nếnh: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX, biển kiểm soát 27B2-180.44, màu xanh đen, số khung RLHJA3852LY107608, số máy JA52E-0215824, dung tích xi lanh 109, số chỗ ngồi 02, loại xe hai bánh, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Ly A C (không có chìa khóa).
* Trả lại cho cháu Giàng A Chịa: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX, không có biển kiểm soát, màu đen trắng, số khung RLHJA3850NY102023, số máy JA52E-0351093, dung tích xi lanh 109, số chỗ ngồi 02, loại xe hai bánh, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Giàng A B.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Ly A C, Giàng A B.
Những người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và Điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân dẫn đến việc ác bị cáo phạm tội là do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo đặc biệt khó khăn, không có việc làm ổn định, bản thân các bị cáo còn quá trẻ tuổi nhận thức còn nhiều hạn chế; các bị cáo bị đối tượng chủ mưu là Thào A Sùng rủ rê thuê các bị cáo vận chuyển ma túy nhưng chưa bắt được; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt, mong muốn nhận được sự khoan hồng của Đảng, Nhà nước cho các bị cáo có cơ hội được sống, để được trở về với gia đình và xã hội, không áp dụng khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo, đề nghị trả lại những chiếc xe máy cho các chủ sở hữu hợp pháp, do các chủ sở hữu không biết việc các bị cáo dùng xe máy để đi vận chuyển ma túy.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hạng Thị Nếnh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát 27B2-180.44 cho bà, bởi việc Ly A C sử dụng xe máy đi vận chuyển trái phép chất ma túy, bà Nếnh không được biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Giàng A Chịa trong quá trình điều tra có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy HONDA WAVE RSX, không có biển kiểm soát cho cháu, bởi việc Giàng A B sử dụng xe máy đi vận chuyển trái phép chất ma túy, cháu Chịa không được biết.
Ông Nguyễn Văn Quang là chủ các phòng trọ không biết được các bị cáo mang trái phép chất ma túy đến phòng trọ của gia đình mình, không có căn cứ để xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Ly A C, Giàng A B đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo không bị oan sai và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo có cơ hội được sống trở về với gia đình và xã hội, xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm và không áp dụng hình phạt bổ sung, vì điều kiện kinh tế của các bị cáo và gia đình rất khó khăn, thuộc hộ nghèo và không có việc làm, không có thu nhập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Ly A C, Giàng A B khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 15/02/2022 tổ C tác C an huyện Điện Biên phối hợp với C an thành phố Điện Biên Phủ; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy C an tỉnh Điện Biên và các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Ly A C, Giàng A B đang thực hiện hành vi vận chuyển và cất giấu trái phép 16.682,99 gam Methamphetamine tại khu vực phòng trọ số 6, số nhà 368 của gia đình ông Nguyễn Văn Quang thuộc tổ 6, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Các bị cáo khai nguồn gốc số ma túy đó là do Thào A Sùng thuê các bị cáo đi nhận ma túy của người phụ nữ dân tộc Mông ở khu vực đoạn đường đầu bản Háng Lia, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Ly A C, Giàng A B tại phiên tòa đúng như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được ghi nhận tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 15/02/2022 của C an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, Kết luận giám định số 422/KL-KTHS ngày 18/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự C an tỉnh Điện Biên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ để xác định vào ngày 15/02/2022 các bị cáo Ly A C, Giàng A B đã có hành vi vận chuyển trái phép 16.682,99 gam Methamphetamine với mục đích để kiếm lời.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự:
Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
…b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định bản cáo trạng số 35/CT-VKS-P1 ngày 13/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo Điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, các bị cáo không bị oan sai.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Xét hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy để kiếm lời của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù biết việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; nhưng do lòng tham về lợi ích kinh tế và thiếu ý thức chấp hành pháp luật, không nghĩ đến hậu quả mà các bị cáo có thể gây ra cho xã hội, các bị cáo đã cố ý trực tiếp vận chuyển trái phép chất ma túy để kiếm lời. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Đề nghị của những người bào chữa về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để cân nhắc hình phạt tù phù hợp với điều kiện hoàn cảnh phạm tội của các bị cáo và xin miễn án phí cho các bị cáo; bởi sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế; điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó, đề nghị của những người bào chữa là có căn cứ để chấp nhận một phần.
Đối với đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là không có căn chấp nhận, vì khối lượng chất ma túy mà các bị cáo đã tham gia vận chuyển là rất lớn, hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiệm trọng, do đó cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, để trừng trị các bị cáo, làm bài học cho các đối tượng khác đã và đang có ý định mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy để kiếm lời và góp phần phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Đề nghị của những người bào chữa về việc trả lại chiếc xe máy HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát 27B2-180.44 cho bà Hạng Thị Nếnh và trả lại chiếc xe máy HONDA WAVE RSX, không có biển kiểm soát cho Giàng A Chịa là có căn cứ cần chấp nhận. Bởi vì bà Hạng Thị Nếnh và cháu Giàng A Chịa không biết các bị cáo sử dụng những chiếc xe máy đó để vận chuyển trái phép chất ma túy.
Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và các quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù tuổi đời của các bị cáo còn quá trẻ, nhận thức còn có nhiều hạn chế, phạm tội vì mục đích kiếm lời và bị người khác rủ rê lôi kéo, đối tượng chính trong vụ án là Thào A Sùng chưa bắt để điều tra làm rõ được, nhưng cũng cần phải áp dụng hình phạt cao nhất loại trừ các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và lấy đó làm bài học, cảnh báo chung cho toàn xã hội, đảm bảo sự trừng phạt nghiêm khắc, răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm C việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp chính của các bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, lao động tự do, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế khó khăn; nếu có áp dụng thì các bị cáo cũng không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 16.277,99 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định và 02 túi xách màu xanh cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 theo lời khai của bị cáo Ly A C là dùng để liên lạc, trao đổi việc vận chuyển trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát 27B2-180.44 thu giữ của bị cáo Ly A C, do bị cáo C sử dụng làm phương tiện phạm tội. Hội đồng xét xử thấy rằng chiếc xe máy đó bị cáo C mượn của bà Hạng Thị Nếnh, bà Nếnh không biết bị cáo sử dụng vào việc đi vận chuyển trái phép chất ma túy, nên cần trả lại chiếc xe máy cho bà Hạng Thị Nếnh.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, không có biển kiểm soát thu giữ của bị cáo Giàng A B, do bị cáo B sử dụng làm phương tiện phạm tội. Hội đồng xét xử thấy rằng chiếc xe máy đó bị cáo B mượn của cháu Giàng A Chịa, Giàng A Chịa không biết bị cáo sử dụng vào việc đi vận chuyển trái phép chất ma túy, nên cần trả lại chiếc xe máy cho cháu Giàng A Chịa.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xét thấy các bị cáo Ly A C, Giàng A B thuộc đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo. Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Theo lời khai của Ly A C, Thào A Sùng là người đã thuê C vận chuyển 30 bánh Methamphetamine, cơ quan điều tra đã triệu tập Thào A Sùng để điều tra làm rõ, nhưng Thào A Sùng không có mặt tại nơi cư trú. Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra C an tỉnh Điện Biên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ nội dung các cuộc hội thoại thỏa thuận trao đổi vận chuyển trái phép chất ma túy giữa Thào A Sùng và Ly A C, nếu có đủ căn cứ phạm tội tiến hành xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Theo lời khai của Giàng A B, người đã giao 30 bánh ma túy là người phụ nữ dân tộc Mông, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của người phụ nữ đó. Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để điều tra, xác minh, Viện kiểm sát không có đủ căn cứ để truy tố. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Theo lời khai của Ly A C: Phàng A Vư và Hoàng Nguyễn Nam là những người được C đặt vấn đề thuê vận chuyển ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Phàng A Vư nhiều lần để điều tra làm rõ, nhưng Phàng A Vư đều không có mặt tại nơi cư trú. Đối với Hoàng Nguyễn Nam, quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa xác định được Hoàng Nguyễn Nam đang ở đâu. Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra C an tỉnh Điện Biên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, nếu có đủ căn cứ tiến hành xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đối với Giàng A Tú, do chưa triệu tập được Hoàng Nguyễn Nam, Phàng A Vư, Vàng A Chua để điều tra, làm rõ, nên chưa có đủ căn cứ để xử lý Giàng A Tú. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết trong vụ án này.
Đối với Vàng A Chua theo lời khai của Giàng A Tú là người cùng Giàng A Tú, Phàng A Vư, Hoàng Nguyễn Nam thỏa thuận việc vận chuyển ma túy cho Ly A C, cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Vàng A Chua để điều tra, làm rõ, nhưng Chua không có mặt tại nơi cư trú. Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra C an tỉnh Điện Biên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, nếu có đủ căn cứ phạm tội tiến hành xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đối với số điện thoại 0835.960.105 là của người phụ nữ giao 30 bánh ma túy cho Giàng A B, thì người đứng tên đăng ký thuê bao điện thoại là ông Lò Văn Bếnh, sinh năm 1928, cư trú tại bản Mển, xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Qua xác minh xác định, ông Lò Văn Bếnh đã chết năm 2019, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết trong vụ án này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Ly A C, Giàng A B phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 40; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Ly A C tử hình.
- Xử phạt bị cáo Giàng A B tử hình.
Áp dụng khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Ly A C, Giàng A B để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 16.277,99 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định.
- 02 túi xách tay màu xanh.
* Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen thu giữ của Ly A C.
* Trả lại cho bà Hạng Thị Nếnh: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX, biển kiểm soát 27B2-180.44, màu xanh đen, số khung RLHJA3852LY107608, số máy JA52E-0215824, dung tích xi lanh 109, số chỗ ngồi 02, loại xe hai bánh, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Ly A C (không có chìa khóa).
* Trả lại cho cháu Giàng A Chịa: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave RSX, không có biển kiểm soát, màu đen trắng, số khung RLHJA3850NY102023, số máy JA52E-0351093, dung tích xi lanh 109, số chỗ ngồi 02, loại xe hai bánh, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Giàng A B.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra C an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 13/6/2022).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Ly A C, Giàng A B.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/8/2022).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo bị tuyên án tử hình có quyền làm đơn xin ân giảm đến Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I - TAND tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - C an tỉnh Điện Biên; - Các bị cáo; - Những người bào chữa; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Trại tạm giam C an tỉnh Điện Biên; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - UBND xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông (Thông báo); - UBND xã Nong U, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (Thông báo); - Phòng Hành chính Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phan Văn Khanh |