- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM VĂN H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN C HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2022/HS-ST Ngày: 29-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Đoàn Minh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn và ông Nguyễn Thế Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chính– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
PHẠM VĂN H, sinh năm 1990, tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn 03, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bị cáo là Đảng viên sinh hoạt đảng tại Chi bộ thôn 03 thuộc Đảng bộ xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 45-QĐ/UBKTHU ngày 31-8-2022; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Trần Thị Lan A (đã ly hôn) và có 02 con (sinh năm 2015 và năm 2018); bị bắt tạm giữ từ ngày 21-8-2022, đến ngày 30-8-2022 chuyển tạm giam, đang tạm giam. Có mặt.
- Bị hại:
Anh Nguyễn T, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn 02, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Anh Nguyễn V, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn 05, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
(Đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Q, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố 02, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.
Anh Cao X, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố 01, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn 03, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Văn H. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ án Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17-8-2022, Phạm Văn H đến nhà anh Nguyễn T, trú tại thôn 02, xã H, huyện Đ hỏi mượn chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Future, biển kiểm soát: 48B1-151.87 của anh T để đi ra thị trấn K mua đồ dùng cá nhân. H hẹn mang xe về trả cho anh T vào chiều cùng ngày, anh T đồng ý giao chiếc xe môtô cùng giấy đăng ký xe môtô cho H mượn, bên trong cốp xe anh T có cất 01 chiếc nhẫn trang sức bằng vàng. Sau khi nhận được chiếc xe từ anh T, H điều khiển đi ra thị trấn K. Trên đường đi, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe môtô trên, nên mang đến cơ sở dịch vụ cầm đồ D địa chỉ tại tổ dân phố 05, thị trấn K do anh Lê Q (trú tại tổ dân phố 02, Phường N, thành phố G) làm chủ, để cầm cố lấy số tiền 6.500.000 đồng. Đến chiều tối cùng ngày, anh T không thấy H trả xe nên nhiều lần gọi điện để yêu cầu H trả xe, thì H nói dối với anh T là H đang trên đường về. Lúc này, anh T thông báo cho H biết trong cốp xe anh T có cất 01 chiếc nhẫn vàng nên không được giao xe cho người khác, nghe vậy, H quay lại cơ sở dịch vụ cầm đồ lấy chiếc nhẫn mang đến tiệm vàng L , có địa chỉ tại thị trấn K cầm cố được 3.700.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được từ việc cầm cố chiếc xe và chiếc nhẫn bằng vàng, H nạp hết vào tài khoản game để quy đổi thành điểm chơi game online (Đánh bạc) và thua hết số tiền trên.
Vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 20-8-2022, do có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước nên Phạm Văn H đến nhà anh Nguyễn V, trú tại thôn 05, xã H để hỏi mượn chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển kiểm soát: 48K1-003.88 của anh V. H đưa ra thông tin gian dối là mượn xe nhằm mục đích cùng anh Đ (là em rể của H) đi ra thị trấn K để đóng tiền điện, vì xe của H bị hư. H hẹn đến 18 giờ cùng ngày sẽ mang xe về trả cho anh V, đồng thời H lấy lý do sợ Cảnh sát giao thông kiểm tra nên đã hỏi mượn kèm giấy đăng ký xe. Nghe vậy, anh V đã giao chiếc xe cùng giấy đăng ký xe môtô trên cho H mượn. Sau đó, H mang chiếc xe của anh V đến cơ sở dịch vụ cầm đồ D, cầm cố được số tiền 11.000.000 đồng, rồi sử dụng toàn bộ số tiền vào việc chơi game online (Đánh bạc) hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 20/KLHĐĐG, ngày 24-8-2022 và bản kết luận định giá số: 29/KLHĐĐG, ngày 12-10-2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Đ, kết luận:
- 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, dung tích xi lanh 134cm3, màu sơn trắng, xe đã qua sử dụng. Tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 12.500.000 đồng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, dung tích xi lanh 124cm3, màu sơn nâu vàng, xe đã qua sử dụng. Tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 11.500.000 đồng.
- 01 chiếc nhẫn trang sức, bằng kim loại chủ yếu là kim loại vàng (Au): 60,4%, khối lượng bao gồm cả đá: 6,4378 gam. Tại thời điểm chiếm đoạt giá trị 4.700.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số: 4912/KL-KTHS, ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, có đính đá đên và các hạt đá nhỏ màu trắng xung quanh, có chữ “BD” và số “610”, khối lượng bao gồm cả đá: 6,4378 gam được niêm phong gửi giám định thành phần kim loại chủ yếu là Vàng (Au). Hàm lượng Vàng (Au): 60,40%.
Tại Bản kết luận giám định số: 269/KL-KTHS, ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận:
Chữ ký, chữ viết mang tên Phạm Văn H dưới mục “CHỦ HIỆN VẬT” tại các bản hợp đồng cầm cố thu giữ từ Lê Q chủ tiệm cầm đồ gửi giám định với chữ ký chữ viết của Phạm Văn H trên các bản tự khai là do cùng một người ký, viết ra.
Cáo trạng số 80/CT-VKS-ĐL ngày 08-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 27 tháng 33 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21-8-2022.
Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của bị cáo đã trả lại cho anh Lê Q, chủ cơ sở cầm đồ D số tiền 17.500.000 đồng; trả lại cho anh Cao X chủ cơ sở Doanh nghiệp tư nhân thương mại (DNTN TM) vàng bạc L số tiền 3.700.000 đồng. Anh Lê Q và Cao X không yêu cầu gì thêm. Đối với bị hại anh Nguyễn T và anh Nguyễn V, đã nhận lại tài sản mà Phạm Văn H đã chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm, nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, biển kiểm soát: 48B1-151.87, kèm theo Giấy đăng ký xe môtô số: 016997 và 01 chiếc nhẫn trang sức, bằng vàng (Au); trả lại cho anh Nguyễn V 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: xanh - trắng, biển kiểm soát: 48K1-003.88, kèm theo bản gốc Giấy đăng ký xe mô tô số: 016371, là những chủ sở hữu hợp pháp, là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 01 Giấy biên nhận của DNTN TM vàng bạc L đề ngày 17-8-2022 đối với chiếc “nhẫn hột đen 1c4” đề ngày 17-8-2022, ghi giá trị 3.700.000 đồng; 02 Hợp đồng cầm cố, trong đó 01 bản in bằng giấy than, có cùng nội dung đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát: 48K1-003.88; 02 Hợp đồng cầm cố, trong đó 01 bản in bằng giấy than, có cùng nội dung đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát: 48B1-151.87; 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn H, bản photo là vật chứng của vụ án. Hiện đang được chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ cho công tác xét xử nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, của Phạm Văn H không sử dụng vào mục đích phạm tội. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp tiếp tục tạm giữ để phục vụ điều tra do có liên quan đến vật chứng của vụ án khác, nên không đề nghị xử lý trong vụ án này.
Quá trình điều tra, Phạm Văn H khai nhận sau khi chiếm đoạt tài sản đã mang đi cầm cố và sử dụng toàn bộ số tiền để chơi game online (Đánh bạc) được thua bằng tiền và thua hết số tiền đã chiếm đoạt. Tuy nhiên, qua xác minh chưa có thông tin giao dịch các trận các cược được thua và sao kê lịch sử giao dịch, nên chưa có căn cứ khởi tố, xử lý Phạm Văn H về hành vi “Đánh bạc”. Hiện nay, Cơ quan điều tra tách hành vi trên, khi nào có căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau, do đó không đề nghị giải quyết trong vụ án này.
Đối với chủ cơ sở cầm đồ D và chủ cơ sở vàng bạc L đã cầm cố tài sản do bị cáo mang đến, tuy nhiên những người này không biết tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, là phù hợp.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17-8-2022, tại nhà anh Nguyễn T trú tại thôn 02, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, lợi dụng mối quan hệ quen biết bị cáo Phạm Văn H đã mượn chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Future, biển kiểm soát: 48B1-151.87 của anh T để đi mua đồ dùng cá nhân. Sau đó, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt nên không trả xe mà mang đi cầm cố lấy số tiền 6.500.000 đồng. Trong cốp xe mô tô của anh T cất 01 chiếc nhẫn trang sức bằng vàng, khi anh T nói cho bị cáo biết, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên không đem trả mà mang chiếc nhẫn đi cầm cố lấy số tiền 3.700.000 đồng. Toàn bộ số tiền cầm cố 11.200.000 đồng, bị cáo đều sử dụng vào mục đích chơi game online được thua bằng tiền. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 16.200.000 đồng (theo kết luận định giá: trị giá chiếc xe mô tô là 11.500.000 đồng, chiếc nhẫn vàng trị giá 4.700.000 đồng).
Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20-8-2022, tại nhà anh Nguyễn V, trú tại thôn 05, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, nên Phạm Văn H có hành vi đưa ra thông tin gian dối bằng việc mượn chiếc xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exiter, biển kiểm soát: 48K1-003.88 của anh Nguyễn V để làm phương tiện đi đóng tiền điện. Anh Nguyễn V tin tưởng nên đã giao xe, sau đó Phạm Văn H đã mang đi cầm cố lấy số tiền 11.000.000 đồng sử dụng hết vào mục đích chơi game online được thua bằng tiền. Giá trị tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 12.500.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tính mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó”.
Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu, làm thiệt hại về tài sản của người khác, trong thời gian ngắn bị cáo đã thực hiện nhiều hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 17-8-2022, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi lạm dụng tín chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn T (chiếc xe mô tô và chiếc nhẫn bằng vàng), do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, anh Nguyễn V có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Văn H đã trả lại cho anh Lê Q là chủ cơ sở cầm đồ D và anh Cao X là chủ cơ sở vàng bạc L số tiền bị cáo đã cầm cố tài sản. Bị hại anh Nguyễn T và anh Nguyễn V đều đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Những người này không yêu cầu gì thêm, nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, biển kiểm soát: 48B1-151.87, kèm theo Giấy đăng ký xe môtô số: 016997 và 01 chiếc nhẫn trang sức, bằng vàng (Au); trả lại cho anh Nguyễn V 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: xanh - trắng, biển kiểm soát: 48K1-003.88, kèm theo bản gốc Giấy đăng ký xe mô tô số: 016371, là những chủ sở hữu hợp pháp, là có căn cứ cần chấp nhận.
Đối với 01 Giấy biên nhận của DNTN TM vàng bạc L đề ngày 17-8-2022 đối với chiếc “nhẫn hột đen 1c4” đề ngày 17-8-2022, ghi giá trị 3.700.000 đồng; 02 Hợp đồng cầm cố, trong đó 01 bản in bằng giấy than, có cùng nội dung đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát: 48K1-003.88; 02 Hợp đồng cầm cố, trong đó 01 bản in bằng giấy than, có cùng nội dung đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát: 48B1-151.87; 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn H, bản photo là vật chứng của vụ án, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, của Phạm Văn H không sử dụng vào mục đích phạm tội. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp tiếp tục tạm giữ để phục vụ điều tra do có liên quan đến vật chứng của vụ án khác, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Quá trình điều tra, Phạm Văn H khai nhận sau khi chiếm đoạt tài sản đã mang đi cầm cố và sử dụng toàn bộ số tiền để chơi game online (Đánh bạc) được thua bằng tiền và thua hết số tiền đã chiếm đoạt. Tuy nhiên, qua xác minh chưa có thông tin giao dịch các trận các cược được thua và sao kê lịch sử giao dịch, nên chưa có căn cứ khởi tố, xử lý Phạm Văn H về hành vi “Đánh bạc”. Hiện nay, Cơ quan điều tra tách hành vi trên của Phạm Văn H, khi nào có căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau là phù hợp, do đó không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Đối với chủ cơ sở cầm đồ D và chủ cơ sở vàng bạc L đã cầm cố tài sản do bị cáo mang đến, tuy nhiên những người này không biết tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, là phù hợp.
Xét các chứng cứ buộc tội, quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát, là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 và khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21-8-2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, biển kiểm soát: 48B1-151.87, kèm theo Giấy đăng ký xe môtô số: 016997 và 01 chiếc nhẫn trang sức, bằng vàng (Au); trả lại cho anh Nguyễn V 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn: xanh - trắng, biển kiểm soát: 48K1-003.88, kèm theo bản gốc Giấy đăng ký xe mô tô số: 016371, là những chủ sở hữu hợp pháp.
Lưu theo hồ sơ vụ án các vật chứng gồm: 01 Giấy biên nhận của DNTN TM vàng bạc L đề ngày 17-8-2022 đối với chiếc “nhẫn hột đen 1c4” đề ngày 17-8-2022, ghi giá trị 3.700.000 đồng; 02 Hợp đồng cầm cố, trong đó 01 bản in bằng giấy than, có cùng nội dung đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát: 48K1-003.88; 02 Hợp đồng cầm cố, trong đó 01 bản in bằng giấy than, có cùng nội dung đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát: 48B1-151.87; 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn H (bản photo).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND H.Đắk R’Lấp; - Phòng PC 06 và PC 10 CA tỉnh Đắk Nông; - Cơ quan CSĐT Công an H.Đắk R’Lấp; - Cơ quan THAHS Công an H.Đ; - Chi cục THADS H.Đ’ - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNV liên quan; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Đoàn Minh Hương |