- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa ông Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Út Đ"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2022 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Thành Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Bá Quyền;
Bà Võ Thị Hồng Tươi.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thuyến, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/7/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Số 421 ấp Tân C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ tạm trú: số 26/17 khu phố B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Út Đ, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Bùi Thanh C, Tổ 4, khu phố T, phường H, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Chí T trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, ông Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Út Đ tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 13/6/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ cuối năm 2018, vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tin tưởng nhau, ai cũng cho là mình đúng nên không có tiếng nói chung. Khi mâu thuẩn gia đình xảy ra, vợ chồng ông T đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả, hiện ông T và bà Đ không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Đ.
Về con chung: Ông T và bà Đ có 02 con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 26/8/2011 và Nguyễn Tường L, sinh ngày 26/2/2014 hiện đang được cha mẹ của ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 02/8/2022, ông Nguyễn Chí T có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Út Đ vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Chí T là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Út Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Út Đ.
Ông Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Út Đ tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 13/6/2011 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của ông T thì trong thời gian chung sống giữa ông T và bà Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tin tưởng nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến việc mâu thuẩn gia đình trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bà Đ tham gia tố tụng nhưng bà Đ vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc bà Đ vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà Đ là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, ông T yêu cầu được ly hôn với bà Đ là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Ông T và bà Đ có 02 con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 26/8/2011 và Nguyễn Tường L, sinh ngày 26/2/2014 hiện do cha mẹ của ông T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con. Xét thấy, cháu T và cháu L đang sống ổn định cùng với ông bà nội và đang đi học tại Vĩnh Long, ông T thường xuyên về thăm, gửi tiền chăm lo cho con ăn học và các cháu T, L đã có lời khai thể hiện nguyện vọng được sống với cha nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T không yêu cầu bà Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà Đ không tham gia tố tụng và không có ý kiến trình bày về việc nuôi con và việc cấp dưỡng, do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của ông T là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Chí T như sau:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Chí T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Út Đ.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 26/8/2011 và Nguyễn Tường L, sinh ngày 26/2/2014 cho ông Nguyễn Chí T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Út Đ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Chí T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006007 ngày 27/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Các đương sự; - Chi cục THA dân sự thị xã Tân Uyên; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thành Hiệp |