vanban.org

Bản án 74/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Anh Nguyễ n CôngH được ly hôn chị Võ ThịT.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễ n Công Hiế u , sinh ngày 22/7/2018 cho anh Nguyễ n Công H trự c tiế p trông nom , chăm só c, nuôi dưỡ ng, giáo dục. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết cho đến khi đương sự có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huy - Thơ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Anh Nguyễ n CôngH được ly hôn chị Võ ThịT.
  • Căn cứ chính? Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2022/HNGĐ-ST
Ngày 26-8-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễ n Quang Vinh

2. Ông Chu Quố c Đạ t

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Hền - Thư ký Toà án nhân dân Hện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Lạng Giang: Bà Đồng Thị Toàn

- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Hện Lạng Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2022/TLST-HNGĐ ngày 09/06/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115A/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10/8/2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễ n Công H, sinh năm 1992 - Vắ ng mặ t

Địa chỉ: Thôn Đ, xã ĐL, Hện L, tỉnh B

*Bị đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1998 - Vắ ng mặ t

Địa chỉ nơi cư trú cuố i cù ng: Thôn Đ, xã ĐL, Hện L, tỉnh B

(Hiệ n nay không rõ đị a chỉ).

(Anh H có đơn xin vắng mặt, chị T vắ ng mặ t không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễ n Công H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Võ Thị T trướ c khi kế t hôn đượ c tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã

ĐL, Hện L, tỉnh B vào ngày 05/3/2018. Anh chị đượ c gia đì nh hai bên tổ chứ c lễ cướ i theo phong tụ c tậ p quá n tạ i đị a phương . Sau khi kế t hôn chị T về nhà anh làm dâu ngay , thờ i gian đầ u vợ chồ ng chung số ng hạ nh phú c nhưng đượ c mộ t thờ i gian ngắ n thì nảy sinh mâu thuẫn , vợ chồ ng thườ ng xuyên xả y ra xô xá t , cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫ n là do vợ chồ ng bấ t đồ ng quan điể m trong cuộ c số ng . Đầu năm 2021, mâu thuẫ n vợ chồ ng ngà y cà ng trầ m trọ ng, chị T đi là m công ty thi thoả ng cuố i tuầ n mớ i về nhà , kể từ thá ng 4 năm 2021 chị T đi là m cả thá ng mớ i về nhà 1 lầ n để thăm con rù i lạ i đi ngay , vợ chồ ng ly thân, cắ t đứ t quan hệ tì nh cả m kể từ đó , không cò n quan tâm đế n cuộ c số ng củ a nhau. Chị T hiệ n nay đi là m ở khu công nghiệ p nhưng anh không biế t chị là m ở công ty nào và thuê ở trọ tại đâu , thi thoả ng chị T gọi điện nói c Hện với con và vài tháng về thăm con ở nhà nhưng lạ i đi luôn. Nay bả n thân anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đí ch hôn nhân không đạ t , mâu thuẫ n vợ chồ ng đã trầ m trọ ng, đờ i số ng chung không thể ké o dà i nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Võ Thị T.

Về con chung: Giữa anh và chị T có 01 con chung là Nguyễ n Công Hiế u, sinh ngà y 22/7/2018. Hiệ n nay chá u Hiế u đang ở cù n g anh. Khi ly hôn anh có nguyệ n vọ ng đượ c nuôi con , đề nghị Toà án giao cháu Hiếu cho anh được trực tiế p trông nom , chăm só c , nuôi dưỡ ng , giáo dục. Về cấ p dưỡ ng nuôi con anh không yêu cầ u Toà á n giả i quyế t.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có , anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tài liệu chứng cứ thu thập được:

+ Tại biên bản xác minh ngày 20/6/2022 của Toà án với Công an xã Đại Lâm thì thấ y: Chị Võ Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đạ i Giá p, xã Đạ i Lâm, Hện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Khoảng mấy tháng trở lại đây chị T không có mặ t tạ i đị a phương , chị T đi đâu là m gì đị a phương không nắ m đượ c , khi đi chị T không là m thủ tụ c khai bá o vớ i chí nh quyề n đị a phương.

+ Tại Công văn số 12984/QLXNC-P5 ngày 23/6/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an cho biết: Chị Võ Thị T, sinh ngà y 20/02/1998 không có thông tin xuất nhập cảnh tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh.

+ Tại biên bản xác minh ngày 20/6/2022 của Toà án với ông Nguyễn Công Biên (bố đẻ anh Nguyễ n Công H) thể hiệ n: Anh H và chị T có đăng ký kết hôn hợ p phá p , sau khi kế t hôn anh chị chung số ng hạ nh phú c đượ c mộ t thờ i gian, đến khoảng năm 2021 vợ chồ ng nả y sinh mâu thuẫ n, nguyên nhân là do chị T đi là m cuố i tuầ n mớ i về , không quan tâm đế n con cá i . Hiệ n nay chị T đi đâu, làm gì bản thân ông không biết , thi thoả ng chị T có gọi điện thoại về hỏi thăm con. Giữ a anh H và chị T có 01 con chung là chá u Nguyễ n Công Hiế u , sinh ngà y 22/7/2018. Ông đề nghị Toà á n giả i quyế t vụ án theo quy đị nh phá p luậ t.

- Tòa án nhân dân Hện Lạng Giang đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời niêm yế t cá c văn bả n tố tụ ng theo quy đị nh nhưng chị Võ Thị T vẫn không đến Toà án để làm việc cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tòa án đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 08/7/2022 và ngày 25/7/2022 nhưng chị T vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

- Ngày 10/8/2022, Tòa án đã mở phiên tòa nhưng chị Võ Thị T vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã phải hoãn phiên tòa.

- Tại phiên toà hôm nay, bị đơn là chị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do. Vì lý do công việc anh H xin vắng mặt tại phiên tòa.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điề u 180, Điều 227, Điều 228, Điề u 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễ n Công H, xử cho anh H được ly hôn chị Võ Thị T. Về con chung: Giao cháu Nguyễ n Công Hiế u , sinh ngày 22/7/2018 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, công nợ chung: Do anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị giải quyết về lệ phí, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của anh Nguyễ n Công H là nguyên đơn làm đơn khởi kiện xin ly hôn chị Võ Thị T, đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn Đạ i Giá p, xã Đại Lâm, Hện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Anh H yêu cầu giải quyết về nuôi con chung khi ly hôn. Từ các nội dung trên, Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: chị T hiệ n nay vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã xác minh với chính quyền địa phương, Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xác định chị T không xuất cảnh, hiện chị T đang ở đâu, làm gì gia đình và địa phương không biết. Căn cứ vào khoản 3 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật dân sự 2015, việc chị T đã thay đổi nơi cư trú không thông báo cho nguyên đơn cũng như chính quyền địa phương biết về nơi cư trú mới theo quy định nên được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP thấy rằng, địa chỉ cuối cùng của chị Võ Thị T tại thôn Đạ i Giá p, xã Đại Lâm , Hện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Hện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yế t các văn bản tố tụng của Tòa án tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị T nhưng chị T không đến Tòa án làm việc. Chị T vắng mặt tại phiên tòa ngày 10/8/2022 và vắng mặt tại phiên tòa hôm nay mà không có lý do. Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điề u 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh H và chị T.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị T đăng kết hôn ngày 05/3/2018 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đạ i Lâm, Hện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Hôn nhân giữa anh H và chị T là tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Về quá trình chung sống của vợ chồng thì thấy: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm lo đế n con cá i . Từ tháng 4 năm 2021, chị T đi là m công ty , vợ chồng ly thân không liên lạc với nhau cho đến nay. Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng chị T không có mặt để tham gia hòa giải và không có mặt để tham gia các phiên tòa xét xử. Như vậy xác định chị T không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. HĐXX thấ y tình trạng hôn nhân giữ a anh H và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện xử cho anh H đượ c ly hôn chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về nuôi con chung, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh H và chị T có 01 con chung là cháu Nguyễ n Công Hiế u , sinh ngày 22/7/2018, cháu Hiế u đang được anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay chị T không rõ địa chỉ ở đâu. Do đó , để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt của cháu Hiế u được ổn định cần chấp nhận yêu cầu của anh H, giao cháu Hiế u cho anh H nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Anh H không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh H trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và án phí: Căn cứ Điề u 147, khoản 2 Điều 180, Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án thì anh Nguyễ n Công H phải chịu toàn bộ lệ phí đăng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và án phí dân sự sơ thẩm.

.Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điề u 180, Điều 227, Điều 228, Điề u 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Anh Nguyễ n CôngH được ly hôn chị Võ ThịT.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễ n Công Hiế u , sinh ngày 22/7/2018 cho anh Nguyễ n Công H trự c tiế p trông nom , chăm só c, nuôi dưỡ ng, giáo dục.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết cho đến khi đương sự có yêu cầu.

Chị Võ Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.

Sau nà y vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

3. Về lệ phí, án phí:

- Anh Nguyễ n Công H phải chịu 5.000.000đ (Năm triệ u đồ ng) tiền lệ phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Xác nhận anh H đã nộp đủ và đã chi phí hết số tiền này.

- Anh Nguyễ n Công H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh H đã nộp theo biên lai số 0012922 ngày 08/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Hện Lạng Giang. Xác nhận anh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Anh H, chị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ