vanban.org

Bản án 74/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đủ; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự đủ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13/9/2022
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thi Thị Thanh Trúc

2. Bà Trần Thị Sang

Thư ký phiên tòa: Châu Thị Phượng Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Trần Văn Thòn – Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2022/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2022/QĐST - HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Diễm K, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Số 139, Kho Dầu, khóm 3, phường 5, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh

2. Bị đơn: Trần Anh T, sinh năm 1974 (vắng)

Địa chỉ: ấp Lò Ngò, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

Con chung của chị K và anh T: Trần Anh K, sinh năm 2012 (vắng)

Địa chỉ: Số 139, Kho Dầu, khóm 3, phường 5, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và tự khai của chị Nguyễn Thị Diễm K như sau:

Chị và anh T chung sống năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song Lộc vào năm 2013. Thời gian chung sống có 01 con chung tênTrần Anh K, sinh năm 2012. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Bất đồng quan điểm sống, anh T uống rượu về thường xuyên đánh đập chị K, không quan tâm chăm sóc đến vợ con nên đã ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn thương nhau nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Chị K yêu cầu được ly hôn với anh T

- Về con chung: Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa giải quyết.

Chị K bận công việc không đến tòa được nên có đơn yêu cầu tòa xét xử vắng mặt

* Phía anh Trần Anh T Tòa án đã thông báo thụ lý, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án biết về việc khởi kiện của chị K.

* Theo tự khai của Trần Anh K: Nếu ba mẹ ly hôn con có nguyện vọng sống với mẹ.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã nhận định:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Những vấn đề khác Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hôn nhân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị K cho chị được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao cho chị K nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị K không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.Về án phí buộc đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh T Tòa đã triệu tập xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đủ căn cứ để xét xử vụ án

[2] Về hôn nhân: Chị K và anh T chung sống với nhau vào năm 2012 đến năm 2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song Lộc nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh T thường xuyên uống rượu về hay đánh đập chị K nên đã ly thân nhau từ năm 2014. Tòa án đã tổ chức hòa giải động viên cho anh, chị đoàn tụ lại với nhau nhưng anh T không đến nên không có kết quả, chị K vẫn giữ quan điểm ly hôn với anh T. Cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được chung sống cũng không hạnh phúc nên hội đồng xử án chấp nhận yêu cầu của chị K cho chị được ly hôn với anh T là phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Từ khi ly thân nhau đến nay chị K là người trực tiếp chăm sóc cháu K, cũng đảm bảo và sự phát triển bình thường của cháu K. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tiếp tục nuôi con của chị K cũng phù hợp nguyện vọng của cháu K muốn sống với mẹ.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét

[6] Về án phí: Buộc chị K phải nộp theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51, 56, 58, 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Diễm K cho chị được ly hôn với anh Trần Anh T.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Anh K cho chị K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

- Về án phí: Chị K phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011207 ngày 8/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị K không phải nộp nữa.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự * Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Trà Vinh;

Thẩm phán – chủ tọa phiên toà

- VKSND huyện Châu Thành;

- THADS huyện Châu Thành;

- Các đương sự; UBND xã

- Lưu.

Đỗ Thị Thu Hằng TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU THÀNH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH TRÀ VINH

_____________________________________

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi.... giờ…...phút, ngày 13 tháng 9 năm 2022

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh trà Vinh

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hằng.

Hội thẩm nhân dân: Thi Thị Thanh Trúc và bà Trần Thị Sang

Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân thụ lý số: 329/2022/TLST- HNGĐ ngày 9 tháng 6 năm 2022 về việc“Tranh chấp ly hôn,nuôi con”giữa:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Diễm K, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Số 139, Kho Dầu, khóm 3, phường 5, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh

2. Bị đơn: Trần Anh T, sinh năm 1974 (vắng)

Địa chỉ: ấp Lò Ngò, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

Con chung của chị K và anh T: Trần Anh K, sinh năm 2012 (vắng)

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Các đương sự tranh xin ly hôn, nuôi con và có nơi cư trú thuộc huyện Châu Thành nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh T Tòa đã triệu tập xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đủ căn cứ để xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3

Về điều luật áp dụng: Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3:

Áp dụng các Điều 28; 35; 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng các Điều 56, 51, 58, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Thành phần Hội đồng xét xử thảo luận có ý kiến:

Về hôn nhân: Chị K và anh T chung sống với nhau vào năm 2012 đến năm 2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song Lộc nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh T thường xuyên uống rượu về hay đánh đập chị K nên đã ly thân nhau từ năm 2014. Tòa án đã tổ chức hòa giải động viên cho anh, chị đoàn tụ lại với nhau nhưng anh T không đến nên không có kết quả, chị K vẫn giữ quan điểm ly hôn với anh T. Cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được chung sống cũng không hạnh phúc nên cho chị được ly hôn với anh T là phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Từ khi ly thân nhau đến nay chị K là người trực tiếp chăm sóc cháu K, cũng đảm bảo và sự phát triển bình thường của cháu K. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tiếp tục nuôi con của chị K cũng phù hợp nguyện vọng của cháu K muốn sống với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét

Sau khi bàn bạc và có ý kiến như trên, Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Diễm K cho chị được ly hôn với anh Trần Anh T.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Anh K cho chị K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có nên không xem xét

*Các vấn đề khác hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3:

-Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc đương sự nộp theo quy định pháp luật

- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật

Nghị án kết thúc vào hồi....... giờ....... phút, ngày 13 tháng 9 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ