vanban.org

Bản án 74/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N: Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị U có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền nợ hụi 13.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng Bn phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa nguyên đơn Nguyễn Thị N và các bị đơn Huỳnh Thị U, Trương Văn B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N: Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị U có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền nợ hụi 13.
  • Căn cứ chính? Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A, TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2022/DS-ST
Ngày: 23/9/2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Huệ

2. Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện A: Ông Trần Văn Ý – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 67/2022/TLST- DS ngày 25 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2022, và Quyết định hoãn phiên tòa số 130/2022/QĐST-DS ngày 29/8/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện A, tỉnh K.

2. Bị đơn: - Bà Huỳnh Thị U, sinh năm 1973.

- Ông Trương Văn B, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện A, tỉnh K.

( Chị N có mặt; bà U, ông B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Trước đây vợ chồng bà U làm ăn sinh sống tại địa phương có nhà cửa đất đai ổn định, trong thời gian này vợ chồng bà U có tham gia chơi hụi của chị như sau:

Hụi bắt đầu áp ngày 10/8/2019 âm lịch vợ chồng bà U có tham gia chơi 01 phần với số tiền 500.000 đồng. Tổng số người tham gia là 30 người, 01 tháng khui 03 lần (10 ngày khui 01 lần). Bà U hốt hụi vào ngày 10/8/2019 âm lịch với số tiền 8.300.000 đồng. Sau đó vợ chồng bà U đóng cho chị được 04 lần số tiền, còn nợ lại 26 lần với số tiền là 26x500.000 = 13.000.000 đồng.

Trong thời gian này bà U có mượn của chị số tiền 3.000.000 đồng và ông B mượn chị số tiền 1.500.000 đồng để chi tiêu trong gia đình.

Như vậy bà U và ông B nợ chị tổng cộng số tiền 17.500.000 đồng (trong đó tiền hụi 13.000.000 đồng, tiền vay 4.500.000 đồng)

Ngày 26/7/2022 chị có nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay 4.500.000 đồng. Chị xác định không tranh chấp số tiền vay để chị và ông B, bà U tự thỏa thuận.

Nay chị yêu cầu ông Trương Văn B, bà Huỳnh Thị U trả lại cho chị số tiền hụi còn thiếu 13.000.000 đồng.

* Bị đơn bà Huỳnh Thị U, ông Trương Văn B vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị N xác định rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay 4.500.000 đồng. Chị xác định không tranh chấp số tiền vay để chị và bà Huỳnh Thị U và ông Trương Văn B tự thỏa thuận. Đồng thời xác định thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị xác định chỉ một mình bà Huỳnh Thị U tham gia chơi hụi và giao tiền hụi cho bà U nên nay chị xác định yêu cầu bà Huỳnh Thị U trả lại cho chị số tiền hụi còn thiếu 13.000.000 đồng, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật.

- Bị đơn bà Huỳnh Thị U, ông Trương Văn B: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

+ Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm, thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay 4.500.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này. Đồng thời, nguyên đơn xác định thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Huỳnh Thị U trả lại cho nguyên đơn số tiền hụi còn thiếu là 13.000.000 đồng do việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu thay đổi của nguyên đơn.

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà Huỳnh Thị U trả lại cho nguyên đơn số tiền hụi còn thiếu là 13.000.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo yêu cầu khởi kiện và đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định đây là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”. Bị đơn bà Huỳnh Thị U, ông Trương Văn B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp X, xã T, huyện A, tỉnh K, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

Về tố tụng:

- Quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn bà Huỳnh Thị U và ông Trương Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các bị đơn bà Huỳnh Thị U, ông Trương Văn B trong vụ án này.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị xác định chỉ một mình bà Huỳnh Thị U tham gia chơi hụi và giao tiền hụi cho bà U nên nay chị xác định yêu cầu bà Huỳnh Thị U trả lại cho chị số tiền hụi còn thiếu 13.000.000 đồng, thực hiện trả khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy do việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận yêu cầu thay đổi của nguyên đơn.

Giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn bà Huỳnh Thị U thực tế đã phát sinh ra quan hệ góp hụi với nhau theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự. Điều này, được thể hiện qua giấy ghi chép danh sách thành viên đóng hụi và giấy ghi chép thể hiện nội dung nhận tiền hốt hụi do chị N cung cấp. Theo giấy ghi chép thể hiện nội dung nhận tiền hụi do chị N cung cấp thể hiện chị B (tức là chị Huỳnh Thị U) đã hốt hụi đầu tiên với số tiền 8.300.000 đồng. Đồng thời, theo biên bản ghi lời khai ngày 19/7/2022 của người làm chứng là bà Phạm Thị L, chị Võ Thị O, chị Nguyễn Thị M đều xác định bà Huỳnh Thị U có tham gia dây hụi 500.000 đồng do chị N làm đầu thảo. Bà U đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng đều vắng mặt không có lý do chính đáng trong suốt quá trình tố tụng. Đây thuộc trường hợp đương sự thừa nhận hoặc không phản đối theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chị N không phải chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Cho nên, yêu cầu khởi kiện của chị N là có căn cứ để chấp nhận và Toà án có đủ cơ sở buộc bà Huỳnh Thị U có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi 13.000.000 đồng cho chị N theo quy định tại Điều 16; Điều 24 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Ngày 26/7/2022 chị N có nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông Trương Văn B, bà Huỳnh Thị U trả số tiền vay 4.500.000 đồng nên Tòa án đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị N yêu cầu ông Trương Văn B, bà Huỳnh Thị U phải trả số tiền vay 4.500.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hoàn trả cho chị N tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, nên bà Huỳnh Thị U phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 13.000.000 đồng x 5% = 650.000 đồng. Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền 437.500 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp cho yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi theo biên lai thu số 0005350 ngày 21 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K.

Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 468, Điều 471 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 16; Điều 24 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N: Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị U có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền nợ hụi 13.000.000 (mười ba triệu) đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng Bn phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị N yêu cầu ông Trương Văn B, bà Huỳnh Thị U phải trả số tiền vay 4.500.000 đồng.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị U phải chịu 650.000 (sáu trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị N số tiền 437.500 (bốn trăm ba mươi bảy nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005350 ngày 21 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trương Văn B, bà Huỳnh Thị U có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ