vanban.org

Bản án 74/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điều của 463, 466 của Bộ luật dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [1] Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đăng Kh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bản án dân sự Khoa - Xoan"
  • Tòa quyết gì? Điều của 463, 466 của Bộ luật dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐH
TỈNH BẠC LIÊU
-----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2022/DS-ST
Ngày 18 - 8 - 2022
Về việc tranh chấp
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm - Ông Nguyễn Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2022/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2022/QĐST-DS ngày 08/7/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Đăng Kh, sinh năm 1994 (có đơn vắng mặt)

Trú tại: Ấp LC, xã ĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

Bị đơn: Chị Nguyễn Kim X, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Trú tại: Ấp DĐ, xã ĐH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh Phạm Đăng Kh trình bày ý kiến: Nguyên trước đây chị Nguyễn Kim X là đầu thảo hụi, tôi là tay em, số tiền hụi vốn tôi đóng cho chị X là 62.000.000 đồng, do chị X không tiếp tục làm hụi nữa nên giữa tôi và chị X thống nhất với nhau chuyển qua tiền cho vay không phát sinh lãi, tôi cho chị X 2.000.000 đồng, còn 60.000.000 đồng chị X viết biên nhận nợ cho tôi với nội dung như sau: Ngày 24/12/2021 tôi đến nhà chị em bạn dâu của chị X là chị Nguyễn Thị D (Nguyễn Hồng D) để đòi tiền thì chị D có điện chị X qua nhà, giữa tôi và chị X có làm biên nhận nợ, sau khi viết biên nhận có đọc lại cho tất cả cùng nghe, nội dung của biên nhận chị X có thiếu tôi số tiền 60.000.000 đồng, chị X hứa mỗi tháng sẽ trả 3.000.000 đồng, trả vào ngày 10 âm lịch hàng tháng. Sau đó thì chị X đồng ý và ký tên vào biên nhận, có chị Nguyễn Hồng D chứng kiến. Sau khi viết biên nhận thì chị X có trả tôi được 3.000.000 đồng, rồi ngưng cho đến nay. Nay yêu cầu chị X trả cho tôi 57.000.000 đồng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đăng Kh. Buộc chị Nguyễn Kim X trả cho chị anh Phạm Đăng Kh số tiền 57.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Nguyễn Kim X chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐH. Chị Nguyễn Kim X đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đương sự.

Thể hiện hồ anh Phạm Đăng Kh có cung cấp tờ biên nhận nợ có chữ ký của chị Nguyễn Kim X và người làm chứng là chị Nguyễn Thị D (Nguyễn Hồng D) là chị dâu của chị X. Qua làm việc với chị D, chị xác định biên nhận lập ngày 24/12/2021chị X có ký vào biên nhận nợ, chị có chứng kiến. Như vậy, có căn cứ xác định chị Nguyễn Kim X có thiếu anh Phạm Đăng Kh 60.000.000 đồng, sau đó chị X trả được 3.000.000 đồng, còn thiếu 57.000.000 đồng, chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đăng Kh là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim X có trách nhiệm nộp theo quy định của pháp luật.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều của 463, 466 của Bộ luật dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đăng Kh.

Buộc chị Nguyễn Kim X trả cho anh Phạm Đăng Kh số tiền 57.000.000 đồng.

[2] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Nguyễn Kim X nộp 2.850.000 đồng. Tiền tạm ứng án phí 1.425.000 đồng anh Phạm Đăng Kh nộp ngày 30/5/2022, theo biên lai thu số 0002364 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH được hoàn lại.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ