vanban.org

Bản án 74/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 05/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

Buộc ông Nguyễn Văn LM trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 32.553.183 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty X - LM"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.
  • Căn cứ chính? Điều 115 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 74/2022/DS-ST
Ngày: 05 - 9 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phan Thùy Trang;

2. Ông Nguyễn Thanh Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2022/QĐXXST-DS ngày 16/8/2022 giữa:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Mua Bán Nợ X;

Địa chỉ: phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Hữu Ý, sinh năm 1996, nơi cư trú: phường P, Quận C, thành phố Cần Thơ; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn LM, sinh năm 1981, địa chỉ: tổ 3, khóm V2, phường VN, thành phố K, tỉnh An Giang; có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH Mua Bán Nợ X có ông Trần Hữu Ý đại diện trình bày:

Ngày 12/4/2017, ông LM có ký kết hợp đồng tín dụng số 20170426-8266959 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (viết tắt là Công ty tài chính) vay số tiền 42.200.000 đồng; lãi suất 3,54%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận ông LM có trách nhiệm thanh toán số tiền 58.329.715 đồng gồm gốc và lãi; trả chậm liên tiếp trong vòng 18 tháng; 17 tháng đầu, trả mỗi tháng 3.210.532 đồng, tháng cuối cùng trả 3.750.671 đồng. Bắt đầu trả từ ngày 01/6/2017. Thực hiện hợp đồng, ông LM đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 08 lần, tổng số tiền 25.776.532 đồng. Kể từ ngày 04/01/2018 đến nay, ông LM không thanh toán cho Công ty tài chính mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần. Ngày 28/09/2018, khoản nợ của ông LM đã được Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Công ty TNHH Mua Bán Nợ X theo Hợp đồng số VPBFC-CEOO-18-0005. Do ông LM trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện yêu cầu ông LM trả toàn bộ nợ gốc và lãi tổng số tiền 32.553.183 đồng gồm nợ gốc số tiền 27.018.617 đồng, lãi số tiền 5.534.566 đồng. Lời khai của bị đơn Nguyễn Văn LM trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Ông có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm V2 phường VN, thành phố K, tỉnh An Giang. Năm 2017 ông có vay của Công ty FE CREDIT số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất lên đến 42.000.000 đồng, vay để mua sắm trang thiết bị sinh hoạt trong gia đình. Hình thức vay tín chấp, trả dài hạn 18 tháng. Vụ việc đã được thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ cho Công ty FE CREDIT. Về chứng cứ thanh toán nợ đã mất hết, không còn (do sửa chữa nhà) nên không cung cấp được cho Tòa án; xin được vắng mặt khi xét xử. Tòa án có ban hành Thông báo số 94/2022/TB-TA ngày 15/8/2022 về việc yêu cầu cung cấp lời khai và tài liệu, chứng cứ. Ông LM nhận được thông báo nhưng không cung cấp theo yêu cầu của Tòa án. Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành do bị đơn ông LM vắng mặt. Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông LM trả toàn bộ nợ gốc và lãi tổng số tiền 32.553.183 đồng gồm nợ gốc số tiền 27.018.617 đồng, lãi số tiền 5.534.566 đồng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

- Bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng việc vay nợ của các bên trên cơ sở tự nguyện, có hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật, trong thời gian thực hiện hợp đồng bà Nữ vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó Công ty tài chính khởi kiện yêu cầu trả nợ là có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 365, 450 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm trả số tiền 32.553.183 đồng gồm nợ gốc số tiền 27.018.617 đồng, lãi số tiền 5.534.566 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự với bị đơn là Nguyễn Văn LM có nơi cư trú tại thành phố K, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về xác lập hợp đồng vay tài sản:

Xét hợp đồng tín dụng số 20170426-8266959 giữa ông LM với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Về vốn và lãi vay: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 20170426-8266959 ngày 11/4/2017; Bảng kế hoạch trả nợ và Lịch sử thanh toán thì Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC có cho ông LM vay số tiền 42.200.000 đồng; lãi suất 3,54%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận ông LM có trách nhiệm thanh toán số tiền 58.329.715 đồng gồm gốc và lãi; trả chậm liên tiếp trong vòng 18 tháng; 17 tháng đầu, trả mỗi tháng 3.210.532 đồng, tháng cuối cùng trả 3.750.671 đồng. Bắt đầu trả từ ngày 01/6/2017. Thực hiện hợp đồng, ông LM đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 08 lần, tổng số tiền 25.776.532 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng ông LM đã không thực hiện đúng thời hạn thanh toán đã ký kết nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Khoản nợ của ông LM đã được Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0005 ngày 28/9/2018 là phù hợp với quy định tại các Điều 115, 365 và 450 của Bộ luật dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó Công ty TNHH Mua Bán Nợ X khởi kiện để yêu cầu ông LM trả tổng số tiền 32.553.183 đồng gồm nợ gốc số tiền 27.018.617 đồng, lãi số tiền 5.534.566 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 115, Điều 365 và Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Buộc ông Nguyễn Văn LM trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 32.553.183 đồng gồm nợ gốc số tiền 27.018.617 đồng, lãi số tiền 5.534.566 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. [5] Xem xét lời khai của bị đơn ông LM thấy rằng, ông LM cho rằng đã thanh toán hết nghĩa vụ vay cho Công ty nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét chấp nhận. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.628.000 (một triệu, sáu trăm, hai mươi tám nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 115, Điều 365 và Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

Buộc ông Nguyễn Văn LM trả cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X số tiền 32.553.183 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH Mua Bán Nợ X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 814.000 (bốn trăm, mười tám nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002318 ngày 11/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ X.

Ông Nguyễn Văn LM phải chịu 1.628.000 (một triệu, sáu trăm, hai mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ