- Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyên Văn T-Hồ Trung P"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 124, Điều 131, Điều 430, Điều 441 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 131 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2022/DS-ST Ngày: 23-9-2022 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Trường
2. Ông Đặng Thành Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Truyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐST - DS ngày 07 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T
Trú tại: Số 25/1D, khóm B, phường 9, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T: Bà Lê Thị M (có mặt)
Trú tại: Số 1, đường N, phường 2, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Ông Hồ Trung P (có mặt)
Trú tại: ấp Đ, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành L
Trú tại: Số 437, ấp P, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thành L: Bà Lê Thị M (có mặt)
Trú tại: Số 1, đường N, phường 2, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn trình bày: Ngày 08/3/2021 nguyên đơn có mua chiếc xe hiệu Suzuki, biển kiểm soát 95H1-174.78 của anh Hồ Trung P với giá 119.000.000 đồng (hợp đồng viết tay), sau đó làm hợp đồng theo mẫu thì ghi giá mua bán là 5.000.000 đồng. Ngày 01/4/2021 thì anh P bàn giao xe và giấy tờ. Quá trình làm thủ tục chuyển tên thì ngày 14/4/2021 ông T được Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Vĩnh Long mời đến để lập biên bản vi phạm chiếc xe đã mua do số khung đã hàn ghép và số máy là số đóng lại. Nguyên đơn có liên hệ với anh P để giải quyết vụ việc nhưng anh P không đồng ý. Nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán xe ngày 01/4/2021 vô hiệu, buộc ông P trả lại 119.000.000 đồng, buộc ông P bồi thường thiệt hại tiền lãi vay tiền mua xe là 1.785.000 đồng từ ngày 08/3/2021 đến ngày 02/5/2021 và thời gian thiệt hại tiếp theo kể từ ngày 03/5/2021 đến khi xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại phần tiền lãi tính đến ngày xét xử là 21.015.000 đồng.
Tại các lời khai của bị đơn ông Hồ Trung P trình bày: Vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2021 ông và ông T có thỏa thuận mua bán xe. Ông có bán chiếc xe hiệu Suzuki, biển kiểm soát 95H1-174.78 cho ông T với giá 119.000.000 đồng (hợp đồng viết tay), sau đó làm hợp đồng theo mẫu thì ghi giá mua bán là 5.000.000 đồng. Ông T đã trả đủ tiền, ngày tháng nào ông P không nhớ ông đã giao xe cho ông T. Hai bên cũng có thỏa thuận là khi nào hồ sơ hoàn tất sẽ giao tiền và đảm bảo tài sản không tranh chấp. Nhưng quá trình sử dụng xe của ông T xảy ra chuyện gì ông không biết. Nay bị công an giữ xe rồi đòi ông trả tiền lại ông không đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán xe máy và bị đơn phải thanh toán lại số tiền mà nguyên đơn đã giao và thiệt hại phát sinh, nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Theo công văn số 95/CSĐT ngày 05/9/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long phúc đáp cho Tòa án thì do xe 95H1-174.78 đã bị mài mất số khung tại vị trí bên phải cổ xe và số máy sau khi giám định đọc được là F122-TH204192 xe không đăng ký lại được, hiện tại chưa có căn cứ xác định xe 95H1-174.78 có liên quan đến vụ án hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Long Hồ sẽ tiến hành trả xe cho cá nhân theo quyết định của Tòa án Châu Thành.
Hợp đồng mua bán xe máy giữa nguyên đơn và bị đơn được công chứng ngày 01/4/2021. Theo khoản 2 điều 117 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”. Theo Điều 8 của Thông tư số 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ công an thì giấy bán, xe của cá nhân có xác nhận công chứng hoặc chứng thực. Nên hình thức của hợp đồng được thực hiện đúng quy định. Tuy nhiên về giá trị xe được ghi trong hợp đồng là 5.000.000 đồng. Nhưng theo đương sự thì giá xe được mua bán với nhau là 119.000.000 đồng. Theo các đương sự khai trong hợp đồng với giá chỉ 5.000.000 đồng với mục đích trốn thuế. Như vậy giữa nguyên đơn và bị đơn đã xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác. Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự thì khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Đặt trường hợp hợp đồng mua bán xe của các đương sự không phải là giả tạo, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 441 của Bộ luật dân sự quy định “Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Hợp đồng mua bán xe được công chứng ngày 01/4/2021 đến ngày 14/4/2021 ông T đi làm thủ tục đăng ký xe là đúng thời gian quy định trong thời hạn 30 ngày tại Điều 6 thông tư 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ công an. Nay cơ quan có thẩm quyền cho rằng xe không thể đăng ký. Nên không thể chuyển quyền sở hữu cho ông T. Do đó rủi ro thì ông P phải chịu theo quy định tại Điều luật trên. Ông P nhận của ông T 119.000.000 đồng thì hoàn trả lại cho ông T. Ông P được quyền liên hệ với cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long đễ nhận lại xe 95H1-174.78.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại tiền lãi để vay tiền mua xe là 21.015.000 đồng. Trường hợp này hợp đồng vô hiệu do giả tạo là do lỗi của các bên nên không thể buộc phía bị đơn bồi thường cho nguyên đơn. Hơn nữa các bên không có thỏa thuận trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thời gian làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sỡ hữu xe. Do đó không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu phần án phí có giá ngạch là 119.000.000 x 5% = 5.950.000 đồng.
Nguyên đơn phải chịu phần án phí có giá ngạch là 21.015.000 x 5% = 1.050.750 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 124, Điều 131, Điều 430, Điều 441 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
Tuyên bố hợp đồng mua bán xe ngày 01/4/2021 giữa ông Nguyễn Văn T với ông Hồ Trung P vô hiệu.
Buộc ông Hồ Trung P trả cho ông Nguyễn Văn T 119.000.000 đồng.
Ông Hồ Trung P được quyền liên hệ đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long để nhận lại xe mô tô 95H1-174.78.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Trung P phải chịu 5.950.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T phải chịu 1.050.750 đồng, chuyển 3.019.000 đồng theo biên lai số 0007861 ngày 10/6/2021 ông T đã đóng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí, ông Tâm được nhận lại 1.968.250 đồng.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND h. Châu Thành; - THA h. Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Phan Ngô Huỳnh |