vanban.org

Bản án 74/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 08/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Thị Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ từ ngày 28/5/2019 đến ngày 31/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Thị Đ trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 74/2021/HSST
Ngày 08/7/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tươi

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

-Thƣ ký phiên toà: Bà Phạm Thanh Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2021/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HS ngày 25/6/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1986. Tại Ninh Bình.Tên gọi khác: không. Nơi cư trú: Xóm Chợ, thôn Đ, xã H, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Trình độ văn hóa: 05/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị N. Chồng: Nguyễn Đình H (đã chết). Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh ngày 19/5/2020.

Tiền án: Bản án số 11/2015/HSST ngày 01/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 19/9/2015. Đã chấp hành xong.

- Bản án số 69/2016/HSST ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đang hoãn thi hành án.

- Bản án số 35/2019/HSST ngày 03/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với bản án số 69/2016/HSST ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù buộc bị cáo phải thi hành hình phạt chung là 15 tháng tù. Đang hoãn thi hành án

Tiền sự: Chưa có.

Về nhân thân:

- Ngày 14/12/2010, Công an phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản;

- Bản án số 161/2011/HSST ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 25/11/2014, Công an thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/3/2021 đến nay. Có mặt.

Người bị hại: ông Nguyễn Hữu B sinh năm 1977.

Trú tại số 13, đường Kim Đồng, phố Phúc Trực, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Dư Đình M, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn Nam Hòa 2, xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Đỗ Thị Tuyết N.

Chị Phạm Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 08/3/2021, Nguyễn Thị Đ điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu đen xám, biển kiểm soát 33P9 - 7391 từ nhà tại xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội đến thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến đường Kim Đồng, phố Phúc Trực, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, Đ điều khiển xe mô tô đi lên vỉa hè rồi dựng trước cửa siêu thị VNMart có địa chỉ tại số 13, đường Kim Đồng, phố Phúc Trực, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình do ông Nguyễn Hữu B làm chủ. Đ đi vào trong siêu thị thì phát hiện bên trong siêu thị có nhiều hộp sữa bột nên nảy sinh ý định trộm cắp. Đ đi đến quầy hàng để sữa bột lấy 04 hộp sữa bột nhãn hiệu Ensure Gold màu xanh loại 850 gam để xuống dưới đất sau đó đi ra quầy thu ngân lấy 01 túi nilon màu xanh bỏ 04 hộp sữa rồi xách túi sữa ra ngoài theo hướng cửa phụ thì thấy chị Phạm Thị Hương sinh năm 1992, trú tại thôn Phú Bình, xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình là nhân viên thu ngân của cửa hàng đang để ý nên Đ đã để 04 hộp sữa bột lên trên tủ đựng sữa chua cạnh cửa ra vào, dùng tấm bìa catong che lại. Sau đó, Đ đi bộ sang qua đường đối diện mua 01 kg mít với mục đích để tránh bị phát hiện hành vi trộm cắp của mình. Khi mua mít xong, Đ quay lại cửa hàng VNMart để lấy 04 hộp sữa thì bị chị Hương phát hiện chạy đến giữ lại và hô hoán người dân bắt giữ Đ đưa lên trụ sở Công an phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình lập biên bản sự việc. Cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Thị Đ 04 hộp sữa bột nhãn hiệu Ensure Gold màu xanh loại 850 gam và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen xám, biển kiểm soát 33P9 - 7391.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐ ĐGTS ngày 11/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Ninh Bình, kết luận: 04 hộp sữa bột Ensure Gold (hộp màu xanh) loại 850 gam còn mới có giá 2.760.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị Đ đã thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đối với 04 hộp sữa Ensure Gold màu xanh loại 850 gam thu giữ của Nguyễn Thị Đ, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Nguyễn Hữu Bình là chủ siêu thị VNMart do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại số sữa trên cho ông Bình, ông Bình đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen xám, biển kiểm soát 33P9-7391 thu giữ của Nguyễn Thị Đ, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Dư Đình M sinh năm 1988, trú tại xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội là người có quen biết với Nguyễn Thị Đ. Ngày 08/3/2021, Đ đã mượn chiếc xe mô tô trên của anh Mậu để đi có việc sau đó sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Anh Mậu không biết. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Mậu, anh Mậu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 03/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 12 đến 15 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với hình phạt chưa chấp hành 06 tháng tù tại Bản án số 69/2016/HSST ngày 15/11/2016 và 09 tháng tù tại Bản án số 35/2019/HSST ngày 03/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung là từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết do người bị hại,người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu xem xét giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo đã có bản tự khai, bản kiểm điểm; Biên bản lấy lời khai; Biên bản hỏi cung. Bị cáo đã được đọc và công nhận đúng lời khai của mình. Bản thân bị cáo xác định không bị ép cung, ngược đãi hành hạ, đánh đập. Bị cáo không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 08/3/2021, tại siêu thị VNMart của ông Nguyễn Hữu Bình tại số 13, đường Kim Đồng, phố Phúc Trực, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Thị Đ đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của cửa hàng đã lén lút chiếm đoạt 04 hộp sữa EnsureGold màu xanh loại 850gam mang đi cất giấu nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân thì bị nhân viên của cửa hàng phát hiện bắt giữ đưa bị cáo cùng vật chứng lên trụ sở Công an phường Phúc Thành lập biên bản sự việc. Giá trị 04 hộp sữa mà bị cáo chiếm đoạt đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định là 2.760.000đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản sự việc, biên bản sao trích

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận camera và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo là người đã có tiền án: Tại Bản án số 11/2015/HSST ngày 01/4/2015 xử phạt 09 tháng tù; Bản án số 69/2016/HSST xử phạt 06 tháng tù; Bản án số 35/2019/HSST ngày 03/7/2019 xử phạt 09 tháng tù đều của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Những lần kết án trước đây bị cáo đều chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị dưới 2 triệu đồng nên bản án trước là điều kiện định tội của bản án sau. Bị cáo chưa được xóa án tích. Do vậy, đối với hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo đã bị xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản vào các năm 2010, 2014 và bị kết án cải tạo không giam giữ vào năm 2011 về hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản. Tuy vậy, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức của bị cáo là coi thường pháp luật. Do vậy, với hành vi phạm tội lần này Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù nghiêm minh cách ly với xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng bản thân cải tạo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng nhằm giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi ngay, về hoàn cảnh gia đình của bị cáo: bị cáo là lao động chính trong nhà, chồng cũ trước đây của bị cáo đã ly hôn, còn người chồng kết hôn sau cũng đã chết, bị cáo một mình nuôi 04 con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo chưa chấp hành hình phạt của Bản án số 69/2016/HSST ngày 15/11/2016 và Bản án số 35/2019/HSST ngày 03/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội nói trên. Do vậy căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù của tội phạm lần này và tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của 02 bản án nói trên để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

Do bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/5/2019 đến ngày 31/5/2019 (lần kết án trước).

Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

. Các vấn đề khác;

Đối với tài sản là 04 hộp sữa EnsureGold màu xanh loại 850gam mà bị cáo Nguyễn Thị Đ chiếm đoạt, bị cáo đã giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho người bị hại là ông Nguyễn Hữu Bình; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen xám, biển kiểm soát 33P9-7391 bị cáo Đ mượn của anh Dư Đình Mậu làm phương tiện khi đi trộm cắp. Anh Mậu không biết việc bị cáo Đ đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho anh Mậu. Đến nay ông Bình và anh Mậu không có yêu cầu đề nghị gì nữa nên vấn đề trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Thị Đ 12 (mười hai) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt nói trên với hình phạt chưa chấp hành 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 69/2016/HSST ngày 15/11/2016 và 09 (chín) tháng tù tại Bản án số 35/2019/HSST ngày 03/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ phải chấp hành hình phạt chung là 27 (hai mươi bẩy) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ từ ngày 28/5/2019 đến ngày 31/5/2019.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. [

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ