- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn P, Trân Thị Mỹ H "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Ph 04 (bốn) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2020.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2021/HS-ST Ngày: 14/4/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông NGUYỄN VĂN BẠN
Bà NGUYỄN THỊ LÝ
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà:
Ông NGUYỄN HOÀI PH - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2021/HSST ngày 21/01/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/QĐXXST – HS ngày 18/3/2021 đối với các bị cáo:
Phan Văn Ph; Sinh năm: 1993; Nơi sinh: KH
Nơi ĐKHKTT: thôn TQ, xã N Q, thị xã NH, tỉnh KH.
Chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú rõ ràng.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 09/12 ; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ tên cha: Phan Văn B, sinh năm: 1968
Họ tên mẹ: Lê Thị L, sinh năm: 1969
Tiền sự: Không
Tiền án: 02 tiền án
- Bản án hình sự sơ thẩm số: 128/2014/HSST ngày 10/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/6/2016, đã chấp hành xong các quyết định khác của các bản án.
- Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2017/HSST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2019, đã chấp hành xong các quyết định khác của các bản án.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số: 265/2012/HSST ngày 09/11/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Bản án hình sự phúc thẩm số: 18/2013/HSPT ngày 22/01/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt 06 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 265/2012/HSST ngày 09/11/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/10/2013, đã chấp hành xong các quyết định khác của các bản án (bị cáo phạm tội thuộc trường hợp là người dưới 18 tuổi).
- Ngày 14/02/2012, Công an xã Ninh Quang, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02/QĐ-XPHC về hành vi đánh nhau.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2020 . Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Thị Minh H; Sinh năm: 1996; Nơi sinh: KH
Nơi ĐKHKTT: thôn ML, phường N Th, thị xã N H, tỉnh KH.
Chỗ ở hiện nay: thôn ML, phường N Th, thị xã N H, tỉnh KH.
Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 05/12 ; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ tên cha: Trần Minh H (đã chết)
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị R, sinh năm: 1975
Họ và tên con: Trần Thị Thanh Ng, sinh năm: 2013
Tiền án, tiền sự: Không
Tạm giữ từ ngày 28/7/2020 đến ngày 03/8/2020.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Lê Nguy n Thái V - sinh năm 1999
Địa chỉ: 112 Hương lộ 45, phường Ng H, thành phố Nh Tr, tỉnh KH. Vắng mặt.
2. Hu nh Vi t Ch Kh - sinh năm 2002
Địa chỉ: 6B Đông Phước, phường Ph L, thành phố Nh Tr, tỉnh KH. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Thành Đ - sinh năm 1979
Địa chỉ: 6B Đ Ph, phường Ph L, thành phố Nh Tr, tỉnh KH. Có mặt.
2. Phan Tr ng Th - sinh năm 1988
Địa chỉ: M Giang, xã N Ph, thị xã NH , tỉnh KH. Vắng mặt.
3. C ng ty tài ch nh TNHH HD SS
Trụ sở chính: Lầu 8, 9, 10 Tòa nhà Gilimex, số 24C Ph Đ L, phường 6, quận B Th, thành phố HCM.
Đại diện theo pháp lu t: Nguy n H u Nh - sinh năm 1978
Địa chỉ: 191 HHG, phường Th L, quận 12, thành phố HCM.
Ủy quyền cho ông Võ Duy L
Địa chỉ: Lầu 8, 9, 10 Tòa nhà Gilimex, số 24C PĐL, phường 6, quận B Th, thành phố HCM. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu dùng cá nhân nên từ khoảng tháng 06/2020 đến tháng 07/2020, Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại khu vực công viên bờ biển đối diện ngã ba giao nhau giữa đường Trần Phú với đường Lý Tự Trọng, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang, cụ thể như sau:
Vụ 1: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/6/2020, Phan Văn Ph điều khiển xe máy hiệu Honda AirBlade, màu bạc xanh đen, biển kiểm soát: 79H1-892.05 chở Trần Thị Minh H đi đến khu vực công viên bờ biển đối diện ngã ba đường Trần Phú và đường Lý Tự Trọng, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang nhằm mục đích xem ai có sơ hở về tài sản thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Khi đi đến nơi, Ph quan sát một lúc thì phát hiện thấy anh Huỳnh Viết Chí Kh (sinh năm: 2002, trú tại: số 6B Đông Phước, phường Phước Long, thành phố Nha Trang) điều khiển xe máy Yamaha Exciter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát: 79Z1-273.38 đi đến dựng tại khu vực công viên bờ biển, rồi đi xuống dưới bãi biển chơi cùng bạn. Lợi dụng lúc anh Khang đi xuống dưới bãi biển, không trông giữ tài sản nên Ph lén lút đi lại gần xe máy thì thấy xe máy không khóa cổ xe. Ph đã dắt xe máy đi ra ngoài đường Trần Phú rồi cùng H đẩy xe máy trên đi về thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cầm thế cho Phan Trọng Th (sinh năm: 1988, trú tại: M Quang, NQ, thị xã NH) được 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Khi cầm thế xe máy Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 79Z1-273.38 cho TH, Ph không nói cho TH biết là xe máy vừa trộm cắp được mà Ph nói xe máy của người quen nhờ đi cầm thế giúp. Số tiền cầm thế xe máy Ph và H đã tiêu dùng cá nhân hết. Khoảng 10 ngày sau, anh TH không thấy Ph đến chuộc lại xe như đã hẹn trước nên đã giao bán xe máy Yamaha Exciter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát: 79Z1-273.38 trên mạng xã hội Facebook cho một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) ở thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận được 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Số tiền bán xe được, TH đã tiêu dùng cá nhân hết.
Vụ 2: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 27/7/2020, Phan Văn Ph điều khiển xe máy hiệu Honda AirBlade, màu bạc xanh đen, biển kiểm soát: 79H1-892.05 chở Trần Thị Minh H đi đến khu vực công viên bờ biển đối diện ngã ba đường Trần Phú và đường Lý Tự Trọng, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang nhằm mục đích xem ai có sơ hở về tài sản thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Khi đi đến nơi, Ph và H ngồi trên ghế đá trong công viên thì Ph phát hiện thấy có một nhóm thanh niên để nhiều xe máy gần chỗ Ph và H đang ngồi, rồi cả nhóm thanh niên trên đi xuống dưới bãi biển chơi. Lợi dụng lúc nhóm thanh niên đi xuống bãi biển chơi, không trông giữ tài sản. Ph lén lút đi đến gần bãi xe thì phát hiện thấy 01 xe máy hiệu Honda SH Mode, màu bạc đen, biển kiểm soát: 79N2-272.65 của chị Lê Nguyễn Thái V (sinh năm: 1999, trú tại: 112 Hương lộ 45, phường NgH, thành phố Nh Tr) không khóa cổ xe nên Ph đã dắt xe máy trên đi ra ngoài đường Trần Phú để H ngồi lên xe máy, còn Ph điều khiển xe máy hiệu AirBlade, màu bạc xanh đen, biển kiểm soát: 79H1-892.05 đẩy đi xe máy Honda SH Mode đi đến thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa để bán xe. Khi cả hai đi đến thị xã Ninh Hòa thì bị Đội Cảnh sát giao thông - Công an thị xã Ninh Hòa đang đi tuần tra phát hiện nghi vấn tiến hành kiểm tra và đưa Ph, H cùng tang vật về trụ sở để làm việc.
Tại bản kết luận định giá số: 296/HĐĐG ngày 29/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát: 79Z1-272.38 có giá trị là: 26.390.000 đồng (hai mươi sáu triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).
Tại bản kết luận định giá số: 249/HĐĐG ngày 29/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 xe máy hiệu Honda SH Mode màu bạc đen, biển kiểm soát: 79N2-272.65 có giá trị là: 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H đã trộm cắp có giá trị là: 61.390.000 đồng (sáu mươi mốt triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Ngoài ra, Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H còn khai nhận: Vào ngày 05/6/2020, Ph và H đã lấy trộm 01 xe máy hiệu Honda AirBlade (không nhớ rõ biển kiểm soát) tại khu vực công viên bờ biển đối diện ngã ba đường Trần Phú và đường Lý Tự Trọng, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang. Ph và H mang xe máy hiệu Honda AirBlade lấy trộm được ra thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cầm thế cho Phan Trọng TH (sinh năm: 1988, trú tại: M Quang, Ninh Quang, thị xã Ninh Hòa) được 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Sau đó, Ph không đến chuộc lại xe máy đã cầm thế như đã hẹn trước nên TH đã lên mạng xã hội Facebook, bán xe máy trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh được 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Số tiền bán xe được, TH đã tiêu dùng cá nhân hết.
Tại bản cáo trạng số 37 ngày 20/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Phan Văn Ph về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Trần Thị Minh H về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Phan Văn Ph và đề nghị xử phạt bị cáo Ph từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù. Đồng thời, đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Trần Thị Minh H và đề nghị xử phạt bị cáo H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
[ 1 ]Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại Lê Nguyễn Thái V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Trọng TH vắng mặt không có lý do. Sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa tiến hành xét xử theo thủ tục chung theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong vụ án này đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[ 2 ] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Văn Ph, Trần Thị Minh H đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên có đủ căn cứ xác định: bị cáo Phan Văn Ph phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 BLHS. Bị cáo Trần Thị Minh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù là vợ chồng nhưng các bị cáo không chăm chỉ làm ăn mà bàn tính với nhau xuống biển, ngồi chờ những người dân xuống biển tắm, lợi dụng sơ hở để trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài. Các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân một cách trái pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm.
Xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng:
1/ Đối với bị cáo Phan Văn Ph: Bị cáo có nhân thân rất xấu, có 2 tiền án chưa được xóa án nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo đã tham gia 02 vụ trộm cắp với tổng giá trị tài sản là 61.390.000đ với vai trò là người thực hành, trực tiếp trộm cắp tài sản, sau khi trộm được chính bị cáo là người đem đi bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”; “tài sản có giá trị từ 50.000.000đ đến dưới 200.000.000đ”; “phạm tội từ 02 lần trở lên” nên cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo; 01 xe máy đã được thu hồi trả cho bị hại nên cần xem xét khi lượng hình nhưng cần áp dụng mức hình phạt cao hơn so với bị cáo H là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
2/ Đối với bị cáo Trần Thị Minh H: Mặc dù chồng liên tục phạm tội, bị cáo là vợ không những không khuyên nhủ chồng mà ngược lại, chính bị cáo là người đã nhiều lần giúp sức tích cực cho bị cáo Ph. Bị cáo là người cảnh giới để cho bị cáo Ph thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp: “tài sản có giá trị từ 50.000.000đ đến dưới 200.000.000đ”; “phạm tội từ 02 lần trở lên” nên cũng cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo; 01 xe máy đã được thu hồi trả cho bị hại; chưa tiền án, tiền sự nên cần xem xét khi lượng hình.
Đối với hành vi của Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H khai nhận đã lấy trộm 01 xe máy hiệu Honda AirBlade (nhưng không nhớ rõ biển kiểm soát, đặc điểm thông tin nguồn gốc của xe máy trên) tại khu vực công viên bờ biển đối diện ngã ba đường Trần Phú và đường Lý Tự Trọng, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang vào ngày 05/6/2020. Quá trình điều tra, đã tiến hành xác minh tại Công an phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang kết quả: vào ngày 05/6/2020 đến nay Công an phường Lộc Thọ không tiếp nhận trường hợp nào có đến trình báo bị mất trộm xe máy hiệu Honda AirBlade như trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Đối với Phan Trọng TH đã nhận cầm thế xe máy Yamaha Exciter, màu trắng đỏ, biển kiểm soát: 79Z1-273.38 với số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 xe máy hiệu Honda AirBlade với giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Tuy nhiên, TH không biết xe máy trên do Ph và H đã trộm cắp và khi cầm thế Ph cũng không nói với TH là xe máy do trộm cắp mà có. Vì vậy, không đủ cơ sở để xử lý Phan Trọng TH về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[3] Về dân sự:
1/ Tại phiên tòa, bị hại Lê Nguyễn Thái V vắng mặt. Tuy nhiên các tài liệu có tại hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại xe máy và không có yêu cầu về bồi thường. Do đó, cần tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
2/ Tại phiên tòa bị hại Huỳnh Viết Chí Kh yêu cầu các bị cáo Ph và H phải bồi thường số tiền là 25.000.000đ. Xét thấy: Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì xe máy 79Z1 -273.38 có giá trị 26.390.000đ. Bị hại Kh chỉ yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số 25.000.000đ. Các bị cáo Ph và H cũng tự nguyện đồng ý sẽ liên đới bồi thường cho bị hại Kh số tiền là 25.000.000đ. Xét thấy đây là sự tự nguyện, phù hợp pháp luật nên ghi nhận. Các bị cáo Ph và H phải liên đới bồi thường cho anh Huỳnh Viết Chí Kh số tiền là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Cụ thể: Bị cáo Phan Văn Ph và bị cáo Trần Thị Minh H mỗi người phải bồi thường cho anh Huỳnh Viết Chí Kh số tiền là 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
3 / Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính TNHH HD SS yêu cầu bị cáo phải trả cho Công ty tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 10.459.497đ. Tại phiên tòa, bị cáo Ph tự nguyện đồng ý sẽ trả toàn bộ số tiền trên cho Công ty tài chính TNHH HD SS. Xét sự tự nguyện của bị cáo là phù hợp pháp luật, nghĩ nên ghi nhận.
4/ Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Trọng TH nên cần tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
[5] Vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang tạm giữ một số tài sản sau: 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus, màu Gold 64GB; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng model A1524, IMEI: 355389070934342 và 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, màu bạc xanh đen, biển kiểm soát: 79H1-892.05 số khung: RLHJF633XKZ004227, số máy: JF94E0007366 (Chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
Xét thấy:
1/ Đối với 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, màu bạc xanh đen, biển kiểm soát: 79H1-892.05 số khung: RLHJF633XKZ004227, số máy: JF94E0007366.
Xét: 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, màu bạc xanh đen, biển kiểm soát: 79H1-892.05 là xe máy thuộc sở hữu của bị cáo Phan Văn Ph. Ngày 15/01/2020, bị cáo Ph với Công ty tài chính TNHH HD SS đã ký hợp đồng tín dụng số 2WW016243815 để bị cáo Ph vay số tiền 23.000.000đ, mục đích mua xe máy nói trên. Đồng thời, hai bên tiếp tục ký hợp đồng thế chấp xe máy nói trên số 2W016243815 để đảm bảo hợp đồng tín dụng và bị cáo được giữ xe máy cùng giấy tờ bản chính. Ngày 27/7/2020 bị cáo đã sử dụng xe máy biển kiểm soát: 79H1-892.05 làm Ph tiện phạm tội nên đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Nha Trang tạm giữ. Trong vụ án này, ngoài trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi là 10.459.497đ cho Công ty tài chính TNHH HD SS thì bị cáo Ph còn phải liên đới với bị cáo Trần Thị Minh H để trả cho bị hại Huỳnh Viết Chí Kh số tiền là 25.000.000đ cùng một số trách nhiệm dân sự khác như tiền án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm… Do đó, cần tiếp tục tạm giữ xe máy nói trên để đảm bảo thi hành án.
2/ Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus, màu Gold 64GB của bị cáo H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng model A1524, IMEI: 355389070934342 của bị cáo Ph. Xét đây là tài sản của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo Ph và bị cáo H.
(Tất cả đều theo biên bản giao nhận vật chứng được lập ngày 27/01/2021 giữa Cơ quan Điều tra Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
[ 4] Về án phí: Bị cáo Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H mỗi người phải phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H mỗi người phải nộp 625.000đ tiền án phí DS-ST.
Ngoài ra, bị cáo Phan Văn Ph còn phải nộp thêm tiền án phí DS-ST (tiền trả nợ cho Công ty tài chính TNHH HD SS) là 523.000đ (Làm tròn số - Năm trăm hai mươi ba nghìn đồng). Như vậy, bị cáo Phan Văn Ph phải nộp tiền án phí DS-ST tổng cộng là 1.148.000đ (Một triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173 ; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Văn Ph.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 ; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Thị Minh H.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Ph 04 (bốn) năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2020.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Minh H 03 (ba) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/7/2020 đến ngày 03/8/2020.
Về dân sự: 1/ Các bị cáo Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H phải liên đới bồi thường cho anh Huỳnh Viết Chí Khang số tiền là 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng). Cụ thể: Bị cáo Phan Văn Ph và bị cáo Trần Thị Minh H mỗi người phải bồi thường cho anh Huỳnh Viết Chí Kh số tiền là 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
2/ Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phan Văn Ph. Bị cáo Phan Văn Ph phải có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH HD SS số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 10.459.497đ (Mười triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
3/ Tại phiên tòa vắng mặt bị hại Lê Nguyễn Thái V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Trọng TH nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Vật chứng:
1/ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Thị Minh H 01 (một) điện thoại di động Iphone 6s Plus, màu Gold 64GB; Trả cho bị cáo Phan Văn Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng model A1524, IMEI: 355389070934342.
2/ Tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe máy hiệu Honda AirBlade, màu bạc xanh đen, biển kiểm soát: 79H1-892.05 số khung: RLHJF633XKZ004227, số máy: JF94E0007366 để đảm bảo thi hành án.
(Tất cả đều theo biên bản giao nhận vật chứng được lập ngày 27/01/2021 giữa Cơ quan Điều tra Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).
Về án phí: Bị cáo Phan Văn Ph và Trần Thị Minh H mỗi người phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thị Minh H phải nộp 625.000đ (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí DS-ST.
Bị cáo Phan Văn Ph phải nộp tiền án phí DS.ST tổng cộng là 1.148.000đ (Một triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại Huỳnh Viết Chí Kh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thành Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Lê Nguyễn Thái V; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Trọng TH vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm Nơi nh n:
| - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà; - VKSND Tp.Nha Trang; - Công an Tp.Nha Trang; - Chi cục THADS Tp.Nha Trang; - Sở tư pháp Khánh Hòa; - Lưu hồ sơ, án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ t a phiên tòa (đã ký) Nguy n Thị B ch Thủy |