vanban.org

Bản án 74/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 20/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: “Cố"ý"làm"hư"hỏng"tài"sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, kết hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: “Cố"ý"làm"hư"hỏng"tài"sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2021/HS-ST
Ngày: 20-8-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành"phần"hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Nguyễn Thị Giang Thanh

Các"hội"thẩm"nhân"dân: Ông Trần Văn Giầu và bà Vũ Thị Xuyến

Thư"ký"phiên"tòa: Ông Lê Trung Nghĩa - Thư ký tòa án

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"thành"phố"Uông"Bí,"tỉnh"Quảng"Ninh"tham"gia" phiên"toà: Ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2021/TLST-HS ngày 09/7/2021, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 71/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị N, sinh ngày 14/5/1997. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 32, khu Phú T, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Giới tính: Nữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Đình M (Đã chết) và bà Liêu Thị T (Đã chết). Họ và tên chồng: Phan Văn D, sinh năm: 1984. Có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” đến ngày 20/8/2021, vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị"hại: Cháu Trịnh Khánh H, sing ngày 09/02/2007. Nơi cư trú: Tổ 1, khu B, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

-"Người"đại"diện"hợp"pháp"của"bị"hại: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1974 (là mẹ đẻ của cháu Trinh Khánh H). Nơi cư trú: Tổ 1, khu B, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Đại"diện"trường"THCS"Phương"Đông,"thành"phố"Uông"Bí: Bà Đặng Thị Ánh T - Chức vụ: Phó hiệu trưởng, vắng mặt (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

-"Người"làm"chứng:"

1. Cháu Nguyễn Thị B, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Tổ 32, khu P, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

2. Cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Tổ 7, khu L, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

3. Cháu Nguyễn Thanh P, sinh năm 2007. Nơi cư trú: Tổ 7, khu 4, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

4. Cháu Lại Thị Trúc Q, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Tổ 7, khu 4, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

5. Cháu Lê Thu T, sinh năm 2006. Nơi cư trú: Tổ 7, khu 5, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

6. Cháu Vũ Thị T, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Tổ 19, khu B, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/02/2021, tại khu vực gần nhà nghỉ Đức Phúc thuộc khu 11, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị N cùng cháu Nguyễn Thị N Bích (sinh năm 2005, trú tại tổ 32, khu Phú Thanh Tây, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí), cháu Nguyễn Thị Hồng N (sinh năm 2005, trú tại tổ 7, khu Liên Phương, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí) và một số người khác gặp nhóm của cháu Trịnh Khánh H (sinh năm 2007, trú tại tổ 1, khu Bí Trung 2, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí), cháu Lê Thu T (sinh năm 2006, trú tại tổ 7, khu 5, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí) và anh Lê Đức V (sinh năm 2000, trú tại tổ 2, khu Tân Lập, phường Phương Đông, thành phố Uông Bí). Do N và B mâu thuẫn với T từ trước nên xảy ra cãi nhau. Sau đó, anh V xảy ra xô xát với N. Thấy vậy, H đưa cho T cầm hộ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng rồi vào can ngăn. Một lúc sau, hai nhóm đi về. Trên đường đi, N vào một tiệm tạp hoá tại khu vực gần bệnh viện Việt Nam – Thuỵ Điển Uông Bí mua 01 con dao gọt hoa quả để phòng thân. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, do Thủy để quên điện thoại của H trên xe của Nhung nên H gọi điện cho Nhung. Lúc này nhóm của N đang ở khu vực trường tiểu học Lý Thường Kiệt thuộc tổ 7, khu 5, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, N được 01 người trong nhóm đưa cho điện thoại của H. Do Nhung bật loa để nghe điện thoại, N nghe thấy H đang hỏi Nhung về chiếc điện thoại, N liền nói có cầm điện thoại, đến mà lấy. H có lời lẽ thách thức nên cả hai cãi nhau qua điện thoại, hẹn nhau trường THCS Nguyễn Trãi ở phường Thanh Sơn lấy lại điện thoại. Sau khi tắt máy, do bức xúc, N cầm chiếc điện thoại trên đập xuống đất nhiều nhát làm chiếc điện thoại bị hư hỏng. Một lúc sau, hai nhóm gặp nhau tại khu vực trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi. H thấy điện thoại của mình đã bị vỡ nên cãi nhau với N. N rút dao ra giơ lên định tiến về phía H nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, H yêu cầu N bồi thường nhưng N không đồng ý nên đi trình báo công an phường Thanh Sơn. (Bút lục số 62, 65 – 72, 101 – 112).

Bản kết luận định giá tài sản số 09 ngày 03/3/2021 kết luận: Chi phí khôi phục lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màn hình cảm ứng, màu vàng, bị vỡ nứt màn hình và vỏ phía sau máy là 6.700.000 đồng. Vậy giá trị thiệt hại của tài sản cần định giá trên là 6.700.000 đồng. (Bút lục số 22, 23).

Quá trình điều tra bị cáo có lời khai giống như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Lời khai của bị hại cháu Trịnh Khánh H và những người làm chứng có nội dung giống với lời khai của bị cáo.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKSUB ngày 07/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội: “Cố"ý"làm"hư"hỏng"tài"sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng. Giao bị cáo cho UBND phường Yên Thanh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 22,5cm, cán dao bằng nhựa, màu đen; trả lại bị hại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, bị cáo có lời khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định việc truy tố đối với bị cáo là đúng; không oan, sai. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Bản ảnh hiện trường, vật chứng (bút lục số 45-55); biên bản khám nghiệm hiện trường (bút lục số 36-41); sơ đồ hiện trường (bút lục số 42-44) và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 21/02/2021, tại tổ 7, khu 5, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn với cháu Trịnh Khánh H, Nguyễn Thị N có hành vi đập chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng của cháu H làm chiếc điện thoại này bị nứt vỡ màn hình và vỏ phía sau, thiệt hại 6.700.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã phạm tội: “Cố"ý"làm"hư"hỏng"tài"sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác là khách thể được pháp luật nhà nước ta bảo vệ. Chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, mục đích thỏa mãn sự tức giận của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự ở địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tôi của bị cáo gây ra không lớn, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình cũng đảm bảo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Về vật chứng:

Đối với 01 con dao dài 22,5cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi kim loại dài 12,5cm, bản rộng 2,5cm không còn gía trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, đã nứt vỡ màn hình và vỏ phía sau là tài sản của bị hại nên cần trả lại cho bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Đối với hành vi “đánh nhau” của bị cáo Nguyễn Thị N và Nguyễn Đức Việt, Công an thành phố Uông Bí đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp, nên không đề cập xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: “Cố"ý"làm"hư"hỏng"tài"sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, kết hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 22,5cm, cán dao bằng nhựa, màu đen

Trả lại bị hại là cháu Trịnh Khánh H 01 (một) chiếc điện thoại di động được niêm phong trong 01 (một) phong bì của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí

(Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí)

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết quy định về án phí, lệ phí tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ