vanban.org

Bản án 74/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm n Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn C 07 năm tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 01 ngày, còn phải chấp hành hình phạt tù là 06 năm 11 tháng 29 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Chinh đi chấp hành hình phạt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________
Bản án số: 74/2021/HS-ST
Ngày: 18-6-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lƣờng Văn Hƣởng

2. Ông: Bùi Ngọc Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2021/ TLST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2021/QĐXXST – HS ngày 27 tháng 5 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2021/HSST-QĐ ngày 08/6/2021 đối với bị cáo: Họ và tên: Lò Văn C; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1978; Nơi ĐKHKTT: Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; trình độ văn hoá: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Con ông: Lù Văn M (đã chết); Con bà: Lò Thị B, sinh năm 1959; Bị cáo có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; bị cáo có vợ là: Lường Thị T, sinh năm 1980 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đến nay đã được xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2020 cho đến ngày 24/12/2020 được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C: Bà Hà Thị T, sinh năm 1986; chức danh: Trợ giúp viên pháp lý.

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn C được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại nhà ở của mình thuộc bản Đ, xã M, huyện M, Lò Văn C đã có hành vi tàng trữ 1,67 gam Heroine và 14,52 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/12/2020 Lò Văn C đang ở nhà tại bản Đ, xã M, huyện M thì có một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết vào nhà chơi, hỏi C có mua ma túy để sử dụng không?. C đồng ý và mua được của người đàn ông dân tộc Mông 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu đen và 136 viên Methamphetamine màu hồng, 04 viên màu xanh đựng trong túi ni lon màu xanh với giá 2.000.000đ, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy Lò Văn C dùng dao lam chia số Heroine chia thành 54 gói nhỏ, lấy các mảnh giấy màu trắng có chữ in gói lại. Do lên cơn nghiện C đã sử dụng hết 03 gói bằng hình thức chích. Còn lại 51 gói C cho vào lọ nhựa màu trắng, nắp màu trắng, cất giấu lọ nhựa và gói Methamphetamine cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/12/2020 khi C đang ở nhà thì Tổ Công tác Công an xã M, huyện M kiểm tra, yêu cầu C có gì liên quan đến ma túy mang ra giao nộp. C lấy lọ nhựa màu trắng bên trong có 51 gói Heroine và 136 viên Methamphetamine màu hồng, ký hiệu WY, 04 viên màu xanh. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 1,67 gam Heroine và 14,52 gam Methamphetamine và 04 viên nén màu xanh không chứa chất ma túy có khối lượng là 0,41 gam.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 15 giờ 15 phút ngày 23/12/2020 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn C là lọ nhựa màu trắng bên trong có 51 gói Heroine nghi là Heroine và 136 viên Methamphetamine màu hồng có ký hiệu WY, 04 viên màu xanh đựng trong túi ni lon màu xanh nghi là Methamphetamine (Hồng phiến).

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 23/12/2020 thì 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 51 gói nghi là Heroine có khối lượng là: 1,67 gam và 136 viên Methamphetamine màu hồng, ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (Hồng phiến) có khối lượng là: 14,52 gam; 04 viên nén màu xanh có khối lượng là 0,41 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 87/GĐ – PC 09, ngày 04/02/2021 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn C gồm:

- 1,67 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018;

- 14,52 gam viên nén màu hồng là ma túy: Loại Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy có số thứ tự: 323, Mục IIC, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

- 0,41 gam viên nén màu xanh không chứa chất ma túy.

Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 41/CT - VKSMA, ngày 26/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 1,60 gam Heroine; 14,20 gam Methamphetamine; 0,21 gam viên nén màu xanh không chứa chất ma túy là vật chứng còn lại của vụ án. Tiêu hủy 01 lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Lò Văn C .

* Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C nhất trí với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Lò Văn C về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện giao nộp đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.

Về án phí gia đình bị cáo Lò Văn C là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo Lò Văn C nhất trí nội dung bản luận cứ của người bào chữa.

Lời nói sau cùng, Lò Văn C nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại nhà ở của mình thuộc bản Đ, xã M, huyện M, Lò Văn C đã có hành vi tàng trữ 1,67 gam Heroine và 14,52 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản xác định khối lượng ngày 23/12/2020 và kết luận giám định số: 87/GĐ – PC 09, ngày 04/02/2021 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 23/12/2020 đối với Lò Văn C .

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Khối lượng ma túy thu giữ của Lò Văn C là 1,67 gam Heroine và 14,52 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy được cộng vào để làm căn cứ truy tố, xét xử đối với bị cáo là 1,67 gam + 14,52 gam = 16,19 gam thuộc quy định tại điểm n khoản 2 điều 249 BLHS quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

………

n ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;”

……….

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên không được đi học. Đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình với chị Lường Thị T, sinh năm 1980 và 03 người con. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đến nay đã được xóa án tích); Bị cáo là một người chồng, người cha nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã đi chấp hành án về nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi được thuyết phụcđã tự nguyện giao nộp ma túy nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 1,60 gam Heroine; 14,20 gam Methamphetamine; 0,21 gam viên nén màu xanh không chứa chất ma túy là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy. 01 lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số Heroine, Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 23/12/2020. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Lò Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm n Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn C 07 năm tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 01 ngày, còn phải chấp hành hình phạt tù là 06 năm 11 tháng 29 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Chinh đi chấp hành hình phạt tù.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 1,60 gam Heroine; 14,20 gam Methamphetamine; 0,21 gam viên nén màu xanh không chứa chất ma túy là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định; Tiêu hủy 01 lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2021).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ