- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Kim Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] p dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2021/HS-PT Ngày: 09 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n T n Đ c
Các Thẩm phán:
1. Ông Y Phi Kbuôr
2. Bà Nguy n Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Duyên – Th ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk lắk tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cầu - Ch c vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2021/HSPT ngày 12 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Huỳnh Thị Kim Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HSST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện M’ Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thị Kim Q, sinh năm: 1971, tại tỉnh Phú Yên. Nơi c trú: Thôn 4, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Huỳnh C (Đã chết) và con bà Lê Thị L. Bị cáo có chồng Diệp Bảo H, có 01 con sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đ ợc tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
Nh ng ngư i tham gia t t ng hác:
- Người bào chữa cho bị cáo:
Luật s Lê Xuân Anh P và luật s Lê Thanh K – Chi nhánh Công ty Luật TNHH HK& G thuộc Đoàn luật s thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: 85 Đ, ph ờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
Luật s Nguy n Tâm H1 – là luật s thuộc văn phòng luật s H - Đoàn luật s tỉnh P; địa chỉ: 01/1A T, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị hại: Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1953.
Nơi c trú: Thôn 4, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguy n Thị Bích N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà n ớc tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Số 39, đ ờng L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Người làm chứng:
Ông Lê Văn H2, sinh năm 1946, có mặt.
Ông Diệp Bảo H, sinh năm 1968, có mặt.
Anh V ơng Văn H3 (Tên gọi khác: D), sinh năm 1995, vắng mặt.
Anh Đoàn Quang S, sinh năm 2001, vắng mặt.
Ông Châu Vĩnh T, sinh năm 1954, vắng mặt.
Ông Nguy n Kim N1, sinh năm 1961, vắng mặt.
Ông Nguy n T n H4, sinh năm 1960, vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn 4, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau: Khoảng 11 giờ ngày 15/01/2020, bà Đặng Thị Đ cùng chồng là ông Lê Văn H2 cắt cỏ tại v ờn của anh V ơng Văn H3 tại thôn 04, xã E, huyện M. Quá trình cắt cỏ ông H2 cắt cỏ sang phần đ t của gia đình bà Huỳnh Thị Kim Q, ông Diệp Bảo H. Bà Q đi ra cho gà ăn thì nhìn th y ông H2 đang cắt cỏ tại phần đ t của gia đình mình nên đi vào nhà gọi chồng. Sau đó ông H đi ra bờ hồ thì bà Q cũng đi ra và cầm theo một con dao rựa. Ông H th y ông H2 cắt cỏ trên phần đ t nhà mình nên ngăn cản thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Bà Đ nghe cãi nhau to tiếng thì cầm liềm đi xuống. Lúc này ông H cãi nhau với ông H2, bà Đ cãi nhau với bà Q. Thời điểm này anh V ơng Văn H3 và Đoàn Quang S đi làm rẫy về, th y cãi nhau nên đ ng lại can ngăn. S kéo giữ ông H2 còn V ơng Văn H3 giữ ng ời ông H. Trong lúc cãi nhau bà Q cầm một con dao rựa đ ng trên bờ hồ, bà Đ cầm một cái liềm đ ng ở bậc th p hơn của bờ hồ, cách bà Q khoảng 1,5 mét. Lúc này bà Q cầm dao bằng tay phải liên tục đ a giao lên xuống tr ớc mặt bà Đ, sau đó bà Q đánh một cái từ trên xuống làm mũi dao trúng vào trán bà Đ gây th ơng tích. Sau đó bà Đ đ ợc đ a đến điều trị tại trung tâm y tế huyện M.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về th ơng tích số 280/TgT - TTPY ngày 07/3/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn th ơng cơ thể do th ơng tích gây nên cho bà Đặng Thị Đ là 03% (Ba phần trăm). Vật tác động: Vật sắc.
Vật ch ng thu giữ: 01 dao rựa dài 59,5 cm, l ỡi bằng kim loại dài 22,5cm, cán dao bằng gỗ dài 37cm; 01 cái liềm cán bằng nhựa, màu xanh dài 12,2cm, l ỡi bằng kim loại dài 21,6cm; 01 cái mũ màu xanh, có 01 vết rách dài 0,6cm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của TAND huyện M'Đrắk quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Kim Q phạm tội “Cố ý gây th ơng tích”.
- Căn c điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Kim Q 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật ch ng, trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 07/12/2020, bị cáo Huỳnh Thị Kim Q kháng cáo kêu oan.
Ngày 14/12/2020, bị hại Đặng Thị Đ kháng cáo đề nghị tăng m c hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nh nội dung bản án sơ thẩm, bản cáo trạng và giữ nguyên lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Cố ý gây th ơng tích” bởi th ơng tích của bị hại bà Đặng Thị Đ là do bà Đ tự mình gây ra. Bị hại đề nghị tăng hình phạt và bổ sung kháng cáo tăng m c bồi th ờng.
Quá trình tranh luận tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính ch t m c độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án c p sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Thị Kim Q về tội “Cố ý gây th ơng tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn c , đúng ng ời, đúng tội và đúng pháp luật. Việc bị cáo không thừa nhận phạm tội “Cố ý gây th ơng tích” là không xác đáng. Bởi vì lời khai của bị hại phù hợp với lời khai của ng ời làm ch ng có mặt trực tiếp tại hiện tr ờng, phù hợp với toàn bộ các tài liệu ch ng c khác nên không có cở sở pháp lý để ch p nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo.
Xét th y m c hình phạt mà Tòa án c p sơ thẩm xử phạt hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là không t ơng x ng. Bởi lẽ, bị cáo không thành khẩn khai báo, không bồi th ờng thiệt hại, không tỏ ra ăn năn hối cải, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sau này.
o vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn c điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Kim Q. Ch p nhận kháng cáo của ng ời bị hại về hình phạt. Sửa bản án hình sự số 33/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Toà án nhân dân huyện M'Đrắk. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kim Q 03 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Những ng ời bào chữa cho bị cáo cùng đồng quan điểm và trình bày luận c : Nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát có nhiều mâu thuẫn và không phù hợp để truy tố bị cáo Huỳnh Thị Kim Q phạm tội: “Cố ý gây th ơng tích” bởi những lý do sau: Vị trí bà Đ bị chém và khoảng cách bị chém do bị hại trình bày tại phiên tòa không phù hợp với các bút lục có trong hồ sơ vụ án (Bút lục 110, 111, 125, 129, 130); Luận tội chỉ phù hợp với lời khai của bị hại, ng ời làm ch ng, không phù hợp với lời khai của bị cáo, không căn c vào những tài liệu ch ng c khác mà chỉ căn c vào lời khai của bị hại là không khách quan; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk có d u hiệu mớm cung; Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng và biên bản làm việc của Ban tự quản thôn 4 là không đúng sự thật, không đúng quy định của pháp luật; Có d u hiệu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra. Trong vụ án anh Đoàn Quang S và anh V ơng Văn H3 là hai nhân ch ng quan trọng nh t nh ng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrắk không tiến hành đối ch t giữa anh Đoàn Quang S và anh V ơng Văn H3 với những ng ời khác; Vết th ơng của bị hại so với vật ch ng là ch a phù hợp; Cơ quan điều tra Công an huyện M’Đrắk không thực nghiệm điều tra theo quy định tại Điều 204 của Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, vết th ơng của bà Đ là do bà Đ tự gây ra. Lời khai của ông Diệp Bảo H khai ch ng kiến nhìn th y bà Đ tay trái dỡ mũ lên, tay phải cầm liềm tự c a vào trán của bà Đ là có căn c , phù hợp với cái liềm bà Đ dùng để cắt cỏ; Tại phiên tòa bà Đ không dám đội mũ vì sợ phát hiện ra sự thật; Kết luận giám định đủ điều kiện truy tố bị cáo nh ng hồ sơ bệnh án lại kết luận bà Đ bị t n công bằng s c của cơ thể do đó Kết luận giám định và Hồ sơ bệnh án mâu thuẫn nhau. Hơn nữa lời khai của anh V ơng Văn H3 và anh Đoàn Quang S trong quá trình điều tra có nhiều mâu thuẫn; Tại phiên tòa sơ thẩm, những ng ời làm ch ng và bị hại đều thừa nhận con dao mà cơ quan điều tra đã thu giữ đ ợc không phải là con dao đã gây th ơng tích cho bà Đ. o đó, Cơ quan điều tra không thu giữ đ ợc vật ch ng gây ra th ơng tích cho bị hại; Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã làm sai lệch hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khởi tố về tội “Làm sai lệch hồ sơ vụ án” theo quy định của pháp luật; Sau 04 tháng Cơ quan điều tra mới yêu cầu bị hại giao nộp vật ch ng là cái mũ và thu giữ là không khách quan. Đề nghị hội đồng xét xử căn c các Điều 13, 157 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Kim Q không phạm tội: “Cố ý gây th ơng tích”. Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo không phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Không ch p nhận luận c của các luật s bào chữa, ch p nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và m c hình phạt. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị hại bổ sung nội dung kháng cáo đề nghị tăng m c bồi th ờng thêm cho bị hại khoảng từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Căn c vào các ch ng c , tài liệu đã đ ợc thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; Căn c vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ch ng c , ý kiến của Kiểm sát viên, quan điểm bào chữa cho bị cáo và của bị cáo, bị hại và ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Xét kháng cáo đề nghị c p phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội “Cố ý gây th ơng tích” thì th y: Tại bút lục số 269, ng ời làm ch ng ông Nguy n T n H4 khai th y bà Đ và bị cáo đang giằng co, chửi mắng nhau; tại bút lục số 108, 109, 112, 113 ng ời làm ch ng trực tiếp là anh V ơng Văn H3 khai ngày 15/01/2020, bà Đặng Thị Đ bị th ơng tích là do bị cáo dùng dao rựa đánh. Cụ thể là khi bị cáo và bà Đ cãi nhau, bị cáo cầm một con dao rựa đ ng trên bờ hồ, bà Đ cầm một cái liềm d ng ở bậc th p hơn của bờ hồ cách bị cáo khoảng 1,5m, bị cáo cầm dao rựa bằng tay phải liên tục nh p lên, xuống tr ớc mặt bà Đ. Sau đó bị cáo nh p mạnh một cái từ trên xuống làm mũ dao trúng đầu bà Đ tạo nên tiếng cốp. Mặt khác, tại bút lục số 123, 124, 125, 126 ng ời làm ch ng anh Đoàn Quang S khai nhìn th y bị cáo và bà Đ cãi nhau, bị cáo cầm một con dao rựa và bà Đ cầm một cái liềm dùng để cắt cỏ. Trong lúc hai bên đang cãi nhau thì th y bị cáo dùng tay cầm con dao rựa liên tục nh p lên, nh p xuống tr ớc mặt bà Đ và gõ vào đầu bà Đ, nhìn th y đầu bà Đ chảy máu nên anh S nói với bà Đ “Đầu bà chảy máu, bà về băng bó đi".
Đối với phần trình bày của bị cáo qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại c p sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi của mình, lời khai của bị cáo cho rằng bị cáo chỉ cầm rựa chúi xuống đ t không có hành động gì rồi bỏ về nhà là không phù hợp với di n biến thực tế của sự việc, không phù hợp với các lời khai của những ng ời làm ch ng khách quan có mặt tại hiện tr ờng, nội dung các lời khai của những ng ời làm ch ng trên đều thể hiện việc xảy ra giằng co xô xát giữa 2 bên là hoàn toàn có thật. Vì vậy, căn c vào các tài liệu ch ng c thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 11 giờ, ngày 15/01/2020 tại Thôn 4, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk xu t phát mâu thuẫn về việc cắt cỏ tại bờ hồ nên bị cáo Huỳnh Thị Kim Q đã dùng con dao rựa đánh một cái từ trên xuống làm mũi dao xuyên qua mũ và trúng vào vùng trán trái của bà Đặng Thị Đ. Hậu quả bà Đặng Thị Đ bị th ơng tích 3% s c khỏe. o đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây th ơng tích" là có căn c , nội dung kháng cáo kêu oan của bị cáo về tội “Cố ý gây th ơng tích” là không có cơ sở để ch p nhận.
Các nhân ch ng đều khẳng định khi cãi nhau chỉ có bị cáo với bị hại là đ ng đối diện sát nhau, không có ai cãi nhau hay xô xát với bị hại.
Nhân ch ng iệp Bảo H (Chồng bị cáo) khai rằng: Khi cãi nhau, bà Đ cầm liềm đ ng đối diện chửi tôi, rồi sau đó quay ng ời lại tay trái nh c mũ ra, tay phải cầm liềm tự c a vào trán gây nên th ơng tích.
Xét th y lời khai của ông H là thiếu căn c , không đ ợc bị hại và các nhân ch ng trực tiếp thừa nhận, ông H cho rằng bà Đ quay ng ời lại thì làm sao ông th y bà Đ dùng liềm c a vào trán và tại sao khi bà Đ nh c mũ ra rồi mà mũ lại bị lủng một đ ờng nhỏ nh m u của dao rựa đ ợc.
Xét m c hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Thị Kim Q mà Toà án c p sơ thẩm đã tuyên là thỏa đáng, t ơng x ng với tính ch t, m c độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bản thân bị hại là dì ruột của chồng bị cáo, bị cáo và bị hại cũng vừa là hàng xóm láng giềng. C p sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, bị hại không cung c p thêm tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự nào mới, bị hại không xu t trình hóa đơn, ch ng từ mới để ch ng minh chi phí thiệt hại tăng thêm đối với kháng cáo bổ sung của bị hại về yêu cầu tăng m c bồi th ờng. Vì vậy, không có căn c ch p nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại mà cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Về án phí: o kháng cáo không đ ợc ch p nên bị cáo, bị hại phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] p dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Kim Q và bị hại bà Đặng Thị Đ - Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 33/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện M' Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Kim Q phạm tội: “Cố ý gây th ơng tích".
Căn c điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Kim Q 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Huỳnh Thị Kim Q đ ợc tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk nhận đ ợc quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Huỳnh Thị Kim Q cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện M, Đắk Lắk để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa ph ơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong tr ờng hợp bị cáo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật thi hành án hình sự 2019.
Mi n kh u trừ thu nhập cho bị cáo Huỳnh Thị Kim Q.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Thị Kim Q, bị hại bà Đặng Thị Đ mỗi ng ời phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp; - TAND huyện M’Đrắk; - VKSND huyện M’Đrắk; - Công an huyện M’Đrắk; - Chi cục THADS huyện M; - UBND xã E, huyện M; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngu n T n Đ c |