vanban.org

Bản án 74/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Trọng Nh. Về con chung: Chị Trần Thị Thanh T ñöôïc trực tiếp chaêm soùc, nuoâi döôõng chaùu Trần Thảo Ng, sinh ngày 26/02/2017. Anh Trần Trọng Nh phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng/tháng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 74/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 04/06/2021
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thuận Thảo. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Long. 2. Bà Phan Thị Đẹp. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng – Kiểm sát viên. Thư ký phiên tòa: Anh Trần Minh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 04 tháng 06 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 182/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐXX-ST ngày 06 tháng 05 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2021/QĐST – HN ngày 25 tháng 05 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1995. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Trọng Nh, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Địa chỉ: T, Phường C, TP M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại Đơn khởi kiện ngày 15/03/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T trình bày:

Chị Trần Thị Thanh T và anh Trần Trọng Nh tự nguyện sống chung vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 13/09/2016. Anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2018 có mâu thuẩn xảy ra. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp dẫn đến bất đồng quan điểm sống về nhiều mặt, anh Nh không quan tâm đến vợ con nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt không còn. Anh chị đã tự ly thân từ tháng 02 năm 2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Trọng Nh.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thảo Ng, sinh ngày 26/02/2017. Chị Trần Thị Thanh T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Thảo Ng do cháu sống với mẹ từ nhỏ và cần mẹ chăm sóc. Chị Trần Thị Thanh T yêu cầu anh Trần Trọng Nh cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Thảo Ng tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn anh Trần Trọng Nh, Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng thủ tục hợp lệ. Bị đơn anh Trần Trọng Nh dù đã nhận Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp bản tự khai trình bày ý kiến của mình, không dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M có ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Trọng Nh.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thảo Ng, sinh ngày 26/02/2017. Chị Trần Thị Thanh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Thảo Nguyên. Anh Trần Trọng Nh phaûi caáp döôõng nuoâi con moãi thaùng 1.000.000 ñoàng/thaùng cho ñeán khi chaùu Trần Thảo Ng troøn 18 tuoåi. Thời gian cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật. Anh Trần Trọng Nh được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

- Về tài sản chung và tài sản chung: Chị Trần Thị Thanh T trình bày chị và anh Trần Trọng Nh không có nợ chung và tài sản chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn anh Trần Trọng Nh cư trú tại T, Phường C, TP M, tỉnh Tiền Giang.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn anh Trần Trọng Nh vắng mặt không có lý do tại phiên tòa mặc dù đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Trọng Nh.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T và anh Trần Trọng Nh tự nguyện sống chung từ năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 13/09/2016 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nhận thấy mâu thuẩn giữa chị Trần Thị Thanh T và anh Trần Trọng Nh là do tính tình không phù hợp, anh Nh không quan tâm đến vợ con nên tình cảm vợ chồng không còn thường xuyên xảy mâu thuẩn dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Xét thấy, mục đích của hôn nhân giữa chị Trần Thị Thanh T và anh Trần Trọng Nh không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài nên anh chị đã tự ly thân từ tháng 02 năm 2019 cho đến nay. Do vậy chị Trần Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Trần Trọng Nh là có cơ sở.

Yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thanh T là có căn cứ theo Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Trần Thị Thanh T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Thảo Ng, sinh ngày 26/02/2017. Chị Trần Thị Thanh T yêu cầu anh Trần Trọng Nh cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Thảo Ng tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Yêu cầu của chị Trần Thị Thanh T là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Thanh T trình bày chị T và anh Trần Trọng Nh không có tài sản chung và nợ chung. Anh Trần Trọng Nh không đến tham dự phiên tòa và không gởi văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét đến tài sản chung, nợ chung của anh chị. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Anh Trần Trọng Nh phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T.

1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Trọng Nh.

2. Về con chung: Chị Trần Thị Thanh T ñöôïc trực tiếp chaêm soùc, nuoâi döôõng chaùu Trần Thảo Ng, sinh ngày 26/02/2017. Anh Trần Trọng Nh phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng/tháng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Trần Thảo Ng tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được ngăn cản người đó thực hiện quyền nầy.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Thanh T trình bày chị T và anh Trần Trọng Nh không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí thành án phí hôn nhân sơ thẩm (theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004962 ngày 15/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang).

Anh Trần Trọng Nh phải chịu 300.000 đồng án phí nghĩa vụ cấp dưỡng.

5. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ