vanban.org

Bản án 74/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Trần Văn H.

Về nuôi con chung: Giao con chung Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 01/12/2012 cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành .Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phạm Thị N. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị N và anh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Trần Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 14/4/2021
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Phan Đình Trung

2.Ông: Nguyễn Phƣơng Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2021/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐST- HNGĐ ngày 30/3/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm: 1993; địa chỉ: Xóm K, xã TX, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt.

Bị đơn: Anh Trần Văn Hiền, sinh năm: 1990; địa chỉ: Xóm K, xã TX, huyện TC, tỉnh NA .Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H kết hôn vào ngày 28/12/2011 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện TC, tỉnh NA. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến đầu năm 2016 thi xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đế nay. Tình cảm vợ chồng là không còn chị Phạm Thị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Văn H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 01/12/2012 hiện đang ở với anh Trần Văn H tại Xóm K, xã TX, huyện TC, tỉnh NA..Chị N có nguyện vọng giao con cho anh Trần Văn H nuôi dưỡng, chị xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Chị Phạm Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến bị đơn anh Trần Văn H: Tạị biên bản ghi lời khai đề ngày 22/3/2021 anh Trần Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị N kết hôn vào ngày 28/12/2011 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện TC, tỉnh NA. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 03 năm đầu sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng đã sống ly thân đến nay đã được 05 năm. Tình cảm vợ chồng là không còn anh Trần Văn H đồng ý ly hôn với chị Phạm Thị N.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 01/12/2012 hiện đang ở với anh tại Xóm K, xã TX, huyện TC, tỉnh NA. Anh Trần Văn H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Phạm Thị N cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Anh Trần Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Văn H đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/3/2021 cháu Trần Thị Mỹ D khai: Hiện tại cháu đang ở với bố Trần Văn H tại Xóm K, xã TX, huyện TC, tỉnh NA. Trường hợp bố, mẹ mà ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố Trần Văn H.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Trần Văn H

Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 01/12/2012 cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phạm Thị N.

Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: §©y lµ vô ¸n thuéc tr êng hîp Tòa án kh«ng tiÕn hµnh hoµ gi¶i được vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt được quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 207 của Bé luËt tè tông d©n sù. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị N và anh Trần Văn H là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TX, huyện TC, tỉnh NA. vào ngày 28/12/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Chị Phạm Thị N xin ly hôn thì anh Trần Văn H cũng đồng ý.

Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị N và anh Trần Văn H chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng,đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N, xử cho anh được ly hôn với với anh Trần Văn H là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 01/12/2012. Trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Trần Văn H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị Phạm Thị N cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến chị Phạm Thị N là đồng ý giao con cho anh Trần Văn H nuôi dưỡng.

Nguyện vọng của cháu Trần Thị Mỹ D là được ở với bố Trần Văn H.

Hội đồng xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự về việc nuôi con không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận. Giao con chung là Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 01/12/2012 cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành là đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con, phù hợp với nguyện vọng của con, đúng với quy định tại các Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phạm Thị N.

Về chia tài sản và nợ: Chị Phạm Thị N và anh Trần Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị N được ly hôn anh Trần Văn H.

Về nuôi con chung: Giao con chung Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 01/12/2012 cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành .Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phạm Thị N.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0004614 ngày 05/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ