- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị D và Bùi Đình B"
- Tòa quyết gì? Chị Trịnh Thị D được ly hôn anh Bùi Đình B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2021/HNGĐ-ST Ngày 14-12-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhạn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Vĩnh;
Bà Đặng Thị Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2021/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 10 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 952/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị D, trú tại: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Đình B, trú tại: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 9 năm 2021 và các bản tự khai của nguyên đơn chị Trịnh Thị D trình bày:
Chị D xây dựng hạnh phúc với anh Bùi Đình B do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 8 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng với gia đình anh B tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Những năm đầu chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận. Quá trình chung sống đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh B không tu chí gia đình, anh B chơi bời cờ bạc, hay uống rượu và anh B có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị chịu đựng vì các con và đã khuyên can nhưng anh B không thay đổi cách sống. Vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình kết hợp hòa giải nhưng không có kết quả, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên đã sống ly thân nhau. Chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Đình B. Về con chung: Chị D và anh B có 03 con chung là Bùi Thị H, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2004, Bùi Thị Thanh T, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2007 và Bùi Đình H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2019. Ly hôn chị D đề nghị được nuôi cả 03 con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi các con. Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Bùi Đình B có lời khai thể hiện: Anh nhất trí lời khai của chị D về thời gian và điều kiện kết hôn. Những năm đầu anh và chị D chung sống với nhau hòa thuận , đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh sai, không tu chí gia đình, bản thân chán nản có chơi bời cờ bạc và sống không chung thủy với chị D. Vợ chồng sống ly thân nhau, anh đã nói chuyện mong muốn chị D rút đơn vợ chồng về đoàn tụ vì anh vẫn còn tình cảm với chị D nhưng chị D không đồng ý. Nếu chị D kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh. Về con chung: Anh B nhất trí vợ chồng có 03 con chung, họ, tên, tuổi các con như chị D trình bày. Nếu chị D kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị được nuôi con Bùi Đình H, nhường chị D nuôi con Bùi Thị H và Bùi Thị Thanh T, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Trịnh Thị D và anh Bùi Đình B đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Chị D và anh B đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử cho chị Trịnh Thị D được ly hôn anh Bùi Đình B; về con chung: Giao con Bùi Thị H, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2004, Bùi Thị Thanh T, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2007 và Bùi Đình H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2019 cho chị Trịnh Thị D nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh B; về tài sản chung: Chị D và anh B không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: Chị Trịnh Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trịnh Thị D có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với anh Bùi Đình B. Anh B có nơi cư trú tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Nguyên đơn chị Trịnh Thị D và bị đơn anh Bùi Đình B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị D và anh Bùi Đình B xây dựng hạnh phúc với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 8 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống chị D và anh B xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh B không tu chí gia đình, chơi bời cờ bạc nợ nần, anh B làm mất tin tưởng về tình cảm đối với chị D nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến nhau. Chị D xin ly hôn anh B, anh B xin đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị D và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị D xin ly hôn anh B là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị D và anh B có 03 con chung là Bùi Thị H, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2004, Bùi Thị Thanh T, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2007 và Bùi Đình H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2019. Chị D đề nghị được nuôi 03 con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi các con. Anh B đề nghị được nuôi con Bùi Đình H, nhường chị D nuôi 02 con Bùi Thị H và Bùi Thị Thanh T. Chị D và anh B tranh chấp với nhau về việc nuôi con. Xét hiện nay chị D có việc làm, có thu nhập, có nơi ở ổn định và đang nuôi 03 con, cháu Bùi Thị H tính đến ngày 22 tháng 12 năm 2021 đủ 18 tuổi; cháu Hà và cháu Thảo đều có đơn đề nghị được ở với chị D. Anh B đề nghị được nuôi con Bùi Đình H nhưng anh không chứng minh được điều kiện nuôi con. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử giao cho chị Trịnh Thị D được nuôi 03 con và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi các con đối với anh Bùi Đình B.
Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị D và anh Bùi Đình B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trịnh Thị D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chị Trịnh Thị D được ly hôn anh Bùi Đình B.
2. Về con chung: Giao con Bùi Thị H, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2004, Bùi Thị Thanh T, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2007 và Bùi Đình H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2019 cho chị Trịnh Thị D nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Bùi Đình B.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trịnh Thị D phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trịnh Thị D đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001052 ngày 05 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Trịnh Thị D đã nộp đủ án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Trịnh Thị D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Bùi Đình B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Các đương sự; - UBND xã Q; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhạn |