vanban.org

Bản án 74/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 19/11/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự; các Điều 394, 395, 400, 404 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 46, 49, 106, 106

Luật đất đai năm 2003; các Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 4, 8, 9 Luật Nhà ở năm 2014; Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Phan Văn D- Phan Văn N, Đặng Thị Kim S"
  • Tòa quyết gì? sự; các Điều 394, 395, 400, 404 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 46, 49, 106, 106
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân Sửa bản án dân sự sơ thẩm; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân Sửa bản án dân sự sơ thẩm; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân Sửa bản án dân sự sơ thẩm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2021/DS-PT
Ngày: 19/11/2021
V/v: “Yêu cầu thực hiện hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất; công nhận quyền
sở hữu nhà ở”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Sơn

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Việt Dũng

Ông Trương Chí Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dương - Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Lương Thị Chung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2021/TLPT-DS ngày 16/7/2021, về việc “Yêu cầu thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; công nhận quyền sở hữu nhà ở”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 43/2021/QĐPT-DS ngày 30/8/2021; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 64/2021/QĐPT-DS ngày 15/9/2021; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 77/2021/QĐPT-DS ngày 24/9/2021; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 81/2021/QĐPT-DS ngày 20/10/2021; Thông báo mở lại phiên tòa số 43/TB-TA ngày 08/11/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn D, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Số 96 đường C, tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Thanh T, sinh năm: 1998 và ông Nguyễn Công T, sinh năm: 1995. Cùng địa chỉ: Số 99 đường N, phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (theo văn bản ủy quyền ngày 24/6/2020), có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phan Văn N, sinh năm: 1954 và bà Đặng Thị Kim S, sinh năm: 1954. Cùng địa chỉ: Số 94 đường C, tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

+ Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Ngọc Đ - sinh năm: 1999. Địa chỉ: Số 94/1 đường Lê Hữu T, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (theo văn bản ủy quyền ngày 15/10/2021), có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Tống Thị B, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Số 96 đường C, tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

3.2. Bà Phan Thị Thanh T, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Số 94 đường C, tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2020, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phan Văn D; người đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Công T và bà Nguyễn Thị Thanh Thanh T trình bày:

Ngày 01/10/2003, cha mẹ ông Phan Văn D là ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S có tặng cho ông D khoảng diện tích đất 60m2 trong thửa đất số 34, tờ bản đồ số 50, địa chỉ tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, có giấy viết tay. Vị trí đất tặng cho được hai bên xác định có tứ cận như sau: Phía đông giáp đường 10,5m; phía tây giáp nhà ông Lê Quang Vịnh; phía nam giáp nhà cha mẹ là ông Phan Văn Nhì và bà Đặng Thị Kim Sơn; phía bắc giáp nhà bà Phạm Thị Thu Sương.

Khoảng tháng 11/2003, vợ chồng ông Phan Văn D và bà Tống Thị B xây dựng 01 căn nhà khoảng 50m2 (tường gạch, nền xi măng) trên diện tích đất được cho. Năm 2017, do ngôi nhà cũ bị mục nát, xuống cấp trầm trọng và gia đình thuộc diện khó khăn (có con bị bại não) nên Nhà nước đã hỗ trợ tiền, xây dựng cho 01 ngôi nhà đại đoàn kết rộng khoảng 50m2 trên chính nền đất cũ mà cha mẹ đã cho. Phần diện tích đất còn lại khoảng 10m2, vợ chồng ông D dùng để làm vườn.

Từ khi được bố mẹ cho đất, vợ chồng ông D xây dựng nhà và sinh sống ổn định, không có tranh chấp với bất kỳ ai. Bố mẹ ông D sinh sống trong ngôi nhà giáp ranh với nhà ông cũng đồng thuận, không hề có ý kiến phản đối gì.

Nhưng hiện nay bố mẹ ông có ý lấy lại 10m2 đất, không cho ông D xây dựng hàng rào, cổng ngõ và đòi lại 60m2 đất được tặng cho. Ông D đã nhiều lần nói chuyện, thương lượng với bố mẹ về việc giải quyết tranh chấp nhưng không thành. Việc cản trở của bố mẹ còn dẫn đến vợ chồng ông D không thể đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất 60m2. Nay ông D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông Phan Văn N, bà Đặng Thị Kim S tiếp tục thực hiện nghĩa vụ quy định tại “Giấy cho đất” ngày 01/10/2003;

- Công nhận quyền sử dụng đất và nhà ở trên diện tích đất 60m2 của thửa đất số 34, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Dũng.

Qua đo đạc thực tế diện tích đất do vợ chồng ông D đang sử dụng là 64.83m2. Do đó, ông Dũng yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích đất 64.83m2 cho vợ chồng ông, đồng thời đồng ý hỗ trợ cho ông N và bà S số tiền 50.000.000 đồng.

* Bị đơn ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S trình bày:

Vào năm 2003, do yêu cầu nhà ở và hoàn cảnh khó khăn của con trai Phan Văn D, được nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết, vợ chồng ông bà có ký Giấy cho đất viết tay cho con Phan Văn D diện tích đất 60m2 nằm trong khuôn viên đất 225m2. Đất vẫn chưa đuợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như vậy về mặt pháp lý vợ chồng ông bà không định đoạt đổi, cho, mua bán đất đối với diện tích đất đó. Mặt khác khi ký giấy không có chứ ký của bà Đặng Thị Kim S và chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

- Do đó đề nghị Tòa án bác đơn yêu cầu của ông Phan Văn D.

- Tuyên bố hủy bỏ giấy cho đất của ông bà ký với ông D.

- Ông bà xác nhận nhà trên đất 60m2 là quyền sở hữu của ông D. Vợ chồng ông bà cam kết không tranh chấp và không yêu cầu di chuyển nhà dưới bất ký hình thức nào. Khi nào vợ chồng ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tách thửa cho ông D.

Theo kết quả định giá tài sản thì tổng giá trị tranh chấp là 6.339.384.657 đồng đây do cơ quan chuyên môn định giá vợ chồng ông bà không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tống Thị B trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của ông Phan Văn D.

* Bà Phan Thị T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà T không có mặt nên Tòa án không lấy lời khai được.

* Với nội dung nêu trên tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định:

Căn cứ vào: - các Điều 394, 395, 400, 404 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 46, 49, 106 Luật đất đai năm 2003; các Điều 99, 100 Luật đất đai năm 2013; các Điều 4, 8, 9 Luật nhà ở năm 2014; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 06/4/2016; Nghị quyết 02/2004/NQ-UBTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 15/10/1993; Nghị định 34/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Đất đai; Quyết định số 29/2018/QĐ-UBND ngày 31/8/2018 sửa đổi bổ sung một số điều của quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ban hành kèm theo Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 26/11/2014 của UBND thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn D đối với ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S về việc “Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng và công nhận quyền sở hữu”.

Tuyên xử:

1. Công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (Giấy cho đất) ngày 01/10/2003 giữa bên cho đất ông Phan Văn N, sinh năm 1954 và bà Đặng Thị Kim S, sinh năm 1956; bên nhận cho đất ông Phan Văn D, sinh năm 1978 có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Phan Văn N, bà Đặng Thị Kim S tiếp tục thực hiện Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (Giấy cho đất) ngày 01/10/2003 giữa bên cho đất ông Phan Văn N, sinh năm 1954 và bà Đặng Thị Kim S, sinh năm 1956; bên nhận cho đất ông Phan Văn D, sinh năm 1978 mà các bên đã ký kết.

2. Công nhận diện tích đất 64.83m2 và ngôi nhà trên đất có diện tích xây dựng 106.16m2 tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 50; địa chỉ tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu của ông Phan Văn D và bà Tống Thị B. Diện tích đất được công nhận có tứ cận như sau:

Cạnh Đông giáp đường Chính Hữu dài 5,3m; Cạnh Tây giáp nhà ông Lê Quang Vịnh dài 8,23m; Cạnh Nam giáp nhà ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S chia làm 3 đoạn, đoạn 1 nối từ điểm A đến điểm B dài 9,28m; đoạn 2 nối từ điểm B đến điểm C dài 2,95m; đoạn 3 nối từ điểm C đến điểm D dài 1,6m; Cạnh Bắc giáp nhà bà Phạm Thị Thu Sương dài 8,23m.

Ranh giới giữa nhà ông D với nhà ông N, bà S được xác định là điểm từ A  B  C  D (có sơ đồ kèm theo). Tổng giá trị tài sản mà ông D và bà B được công nhận là 6.339.384.657 đồng.

Ông Phan Văn D và bà Tống Thị B được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

3. Giao nhà vệ sinh tại tầng 1 (ký hiệu WC 1) diện tích 3.83m2 cho vợ chồng ông D và bà B sở hữu. Ông D và bà B có nghĩa vụ thối trả lại giá trị nhà vệ sinh cho ông Nhì và bà Sơn số tiền 11.837.599 đồng.

- Ông Phan Văn D và bà Tống Thị B có nghĩa vụ thối trả lại giá trị đất vượt quá theo giấy cho đất (4.83m2) là 435.127.721 đồng cho ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được miễn do thuộc đối tượng người cao tuổi.

+ Án phí dân sự sơ thẩm về công nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở ông Phan Văn D và bà Tống Thị B phải chịu là 114.339.384 đồng, nhưng ông Phan Văn D và bà Tống Thị B được miễn do thuộc diện hộ nghèo tại địa phương.

5. Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và tiền định giá tài sản ông Phan Văn D và bà Tống Thị B tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).

6. Hoàn trả cho ông Phan Văn D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0006145 ngày 16/6/2020 của Cơ quan Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án.

* Sau khi xét xử sơ thẩm trong hạn luật định, bị đơn ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đề nghị xét xử lại theo trình tự phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn D.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát biểu về việc giải quyết vụ án như sau:

+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Thanh T vắng mặt là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Thanh T vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Thúy.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S thay đổi kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn Nhì và bà Đặng Thị Kim S với ông Phan Văn D đối với diện tích 52m2 đất cho ông Phan Văn D và bà Tống Thị B. Đối với diện tích đất đường luồng 9.4m2 là của ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S vì ông N và bà S bán cà phê, đồ ăn vặt trên vỉa hè, dùng cho khách sử dụng đi vào nhà vệ sinh nằm trong tầng 01 của nhà ông D và bà B nên không chấp nhận việc giao đường luồng cho ông D và bà B. Còn nhà vệ sinh của ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S nằm trong tầng 01 của nhà ông Dũng và bà Bông thì giao cho ông D, bà B sở hữu và không phải thối trả giá trị.

[2.1] Lô đất ông Phan Văn D đang tranh chấp thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 50, địa chỉ tại tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng có nguồn gốc từ việc ông Phan Văn N được bà Ngô Thị Tiếp (là mẹ ruột) chuyển nhượng một phần để làm nhà ở từ năm 1992 với diện tích 225m2 theo Giấy cho đất được Ủy ban nhân dân phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà xác nhận ngày 09/01/2001. Ông N kê khai và đăng ký đất tại sổ mục kê của Ủy ban nhân dân phường An Hải Bắc có diện tích đất là 136.5m2.

[2.2] Tại Quyết định số 3117/QĐ-UBND ngày 01/7/2016 về việc phê duyệt vị trí thửa đất, tính pháp lý về nhà, đất và tài sản… và Quyết định số 1362/QĐ-UBND ngày 21/3/2017 về việc phê duyệt và điều chỉnh tính pháp lý về nhà, đất… tại phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng của Ủy ban nhân dân quận Sơn Trà có danh sách kèm theo thì thửa đất ông N và bà S có diện tích sử dụng là 155.1m2 đất, diện tích thu hồi là 41.3m2 đất.

[2.3] Tại Trích lục bản đồ địa chính, Sơ đồ mặt bằng nhà đất và tài sản khác gắn liền với đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Sơn Trà lập ngày 15/4/2020 thì thửa đất trên có diện tích là 114m2, mục đích đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 20/10/2021, các đương sự đề nghị tạm ngừng phiên tòa để trưng cầu Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và Môi trường Đà Nẵng thực hiện giám định, đo đạc lại toàn bộ diện tích nhà và đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 50, địa chỉ tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Theo kết quả đo đạc của Trung tâm Kỹ thuật và Tài nguyên Môi trường Đà Nẵng tại Sơ đồ vị trí thửa đất ngày 05/11/2021 thì thửa đất trên có tổng diện tích là 113m2, trong đó diện tích đất của ông Phan Văn N, bà Đặng Thị Kim S là 51.6m2 và có 01 ngôi nhà tích xây dựng là 51.6m2, diện tích sử dụng 97.90m2; diện tích đất của ông Phan Văn D là 52m2 và có 01 ngôi nhà có diện tích xây dựng là 46.8m2, diện tích sử dụng 89m2; phần diện tích đường luồng giữa hai nhà là 9.4m2.

Xem xét kháng cáo của ông Phan Văn N, bà Đặng Thị Kim S và người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà S tại phiên tòa thì thấy:

[2.5] Ngày 01/10/2003, ông N và bà Sơn lập giấy cho đất, có nội dung: Cho con trai Phan Văn D diện tích đất 60m2. Sau khi lập“Giấy cho đất”, ông N và bà S đã giao đất để ông D xây dựng nhà và sinh sống trên diện tích đất được cho. Trong suốt quá trình xây dựng nhà và sinh sống tại đây, ông N và bà S là hộ liền kề với nhà đất của ông D không có ý kiến phản đối, được thể hiện qua các sự việc sau:

- Năm 2003 sau khi cho đất thì vợ chồng ông D xây nhà tạm có diện tích khoảng 50m2 và sinh sống trên phần đất được cho. Đến năm 2017, khi được Nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết (số tiền 60.000.000 đồng), ông D và bà B xây dựng lại ngôi nhà 02 tầng có diện tích xây dựng là 46.8m2 trên diện tích đất 52m2, lúc này ông N và bà S hoàn toàn đồng ý và không phản đối thể hiện tại đơn xin hỗ trợ xây dựng nhà ngày 05/5/2017 của ông D gửi Ủy ban nhân dân phường được bà Đặng Thị Kim S mẹ ông D là người đã ký xác nhận cho ông D. Việc ông D xây dựng nhà ông N, bà S không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

- Biên bản khảo sát hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết hộ nghèo ngày 28/4/2017 bà Đặng Thị Kim S đã ký xác nhận, xin cho ông Dũng được hỗ trợ xây dựng nhà.

- Hợp đồng xây dựng nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo ngày 06/6/2017 thì ông Phan Văn N đã nhận thầu xây dựng cho ông Dũng.

- Biên bản thanh lý Hợp đồng, nghiệm thu, bàn giao nhà đại đoàn kết ngày 25/10/2017 ông Phan Văn N - đại diện bên nhận thầu xây dựng đã ký bàn giao nhà của ông D cho Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam phường An Hải Bắc.

Do vậy, có căn cứ xác định có việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông N, bà S với ông D theo“Giấy cho đất” ngày 01/10/2003.

Giấy cho đất ngày 01/10/2003 đã vi phạm về hình thức, không có công chứng, chứng thực theo quy định. Tuy nhiên, tại thời điểm lập giấy cho đất ông N, bà S là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 52m2 đất cho ông D và bà B. Đất có tứ cận như sau: Hướng Đông giáp đường Chính Hữu, hướng Tây giáp nhà ông Lê Quang Vịnh, hướng Nam giáp nhà ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S, hướng Bắc giáp nhà bà Phạm Thị Thu Sương.

Hiện nay trên diện tích đất ông D đang sử dụng có 01 ngôi nhà có kết cấu: móng đá và bê tông, trụ, khung dầm bằng bê tông cốt thép, nền gạch men, tường xây, trần đúc, số tầng 02 tầng tọa lạc tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 50, (theo Sơ đồ vị trí thửa đất của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và Môi trường Đà Nẵng là thửa đất số 34, tờ bản đồ 119), địa chỉ tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Phần ngôi nhà các bên không tranh chấp nhưng để thuận tiện cho việc đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cần giao cho ông D và bà B quyền được liên hệ với cơ quan có liên quan để đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.

[2.3] Đối với diện tích đất đường luồng giữa hai nhà là 9.4m2, thì thấy: Tại tầng 01 ngôi nhà của ông D, bà B có nhà vệ sinh cũ diện tích 3.83m2 trước đây khi chưa xây nhà mới và hiện nay thì gia đình ông N, bà S bán cà phê, đồ ăn vặt trên vỉa hè, dùng cho khách sử dụng đi vệ sinh bằng lối đi vào là đường luồng nên cần giao đường luồng có diện tích 9.4m2 cho ông N, bà S sử dụng, không chấp nhận yêu cầu của ông D, bà B về việc sử dụng đường luồng.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà S đồng ý giao nhà vệ sinh cũ có diện tích 3.83m2 nằm trong tầng 01 nhà của ông D, bà B cho ông D, bà B sở hữu và không yêu cầu thối trả lại giá trị. Đây là sự tự nguyện của ông N, bà S nên chấp nhận.

[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn N, bà Đặng Thị Kim S. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Ông Phan Văn D, bà Tống Thị B và ông Phan Văn N tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).

[5] Về án phí dân sự:

[5.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Ông Phan Văn D và bà Tống Thị B thuộc diện hộ nghèo của địa phương, (có giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021) nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[5.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông N và bà S số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0006771 ngày 04/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 308, các Điều 147, 148, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 119 Bộ luật Dân sự; các Điều 105, 106, 113 Luật đất đai năm 2003; các Điều 166, 167, 179, 203 Luật đất đai năm 2013; các Điều 4, 8, 9 Luật Nhà ở năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

1.1. Công nhận giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S với ông Phan Văn D theo “Giấy cho đất” ngày 01/10/2003 có hiệu lực pháp luật.

1.2. Công nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Văn D và bà Tống Thị B đối với diện tích 52m2 đất (nằm trong thửa đất số 34, tờ bản đồ số 50 của ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S - theo Sơ đồ vị trí thửa đất của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và Môi trường Đà Nẵng là thửa đất số 34, tờ bản đồ sô 119) gắn liền với 01 ngôi nhà có diện tích xây dựng 46.8m2, diện tích sử dụng 89m2, kết cấu móng đá và bê tông, trụ, khung dầm bằng bê tông cốt thép, nền gạch men, tường xây, trần đúc, số tầng 02 tầng tại tổ 91, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Nhà đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường Chính Hữu, phía Tây giáp nhà ông Lê Quang Vịnh, phía Nam giáp nhà ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S, phía Bắc giáp nhà bà Phạm Thị Thu Sương.

(Nhà, đất của ông Phan Văn D, bà Tống Thị B có ký hiệu là B; phần đất của ông Phan Văn Nhì, bà Đặng Thị Kim Sơn có ký hiệu là A, C; có sơ đồ kèm theo).

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở đối với nhà, đất đang sở hữu, sử dụng.

3. Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phi định giá tài sản: Ông Phan Văn D và ông Phan Văn N tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S được miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộc đối tượng người cao tuổi.

+ Ông Phan Văn D và bà Tống Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm do thuộc diện hộ nghèo tại địa phương.

+ Hoàn trả cho ông Phan Văn D số tiền tạm ứng án phí dân sự sự thẩm đã nộp là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0006145 ngày 16/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

5. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn N và bà Đặng Thị Kim S không phải chịu nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0006771 ngày 04/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ