vanban.org

Bản án 74/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 13/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo PTKD cho Uỷ ban nhân dân phường B, quận C, thành phố Hải Phòng, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PTKD - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo PTKD cho Uỷ ban nhân dân phường B, quận C, thành phố Hải Phòng, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2020/HS-ST
Ngày 13-10-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Khương;

Ông Trần Ngọc Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Long Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kiều Dung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 và 29 tháng 9; ngày 6 tháng 10 và ngày 13 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2020/TLST-HS, ngày 30 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2020/HSST-QĐ ngày 11 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:

PTKD, sinh ngày 23 tháng 3 năm 1981 tại Yên Bái; ĐKNKTT: Số 10B/5, tổ A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; có chồng là F; có hai con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24-02-2020, hiện tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo PTKD: Ông G - Luật sư Công ty Luật TNHH H - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị hại: Ông BH, sinh năm 1970; địa chỉ: Số 10/5 I, khu A, phường B, quận C, Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông NLQ1, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 20/5, I, khu A, phường B, quận C, Hải Phòng; có mặt.

+ Anh NLQ2, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 11/5, I, khu A, phường B, quận C, Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Anh NLC1; chị NLC2 và anh NLC3; đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17-9-2019, sau khi đi làm về PTKD phát hiện cổng ngõ đi chung khu nhà PTKD bị phá khóa. Xem lại camera an ninh thì phát hiện ông BH, trú tại: Số 10/5 I, A, B, C (là hàng xóm) đã dùng máy cắt cầm tay cắt khóa cổng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, PTKD đi ra đầu ngách 10/5, A, B để nói chuyện với ông BH về việc cắt khóa trên, hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi, xô đẩy nhau lùi vào trong ngõ đi chung. Khi đến khu vực bãi đất trống giữa nhà ông BH và nhà PTKD, ông BH dùng tay phải đánh vào vùng cổ, mặt của PTKD. PTKD vung tay phải đánh trả ông BH hai đến ba cái nhưng không trúng, đồng thời PTKD nói: “Đ.mẹ đánh bố mày”. Ông BH đứng tại chỗ dùng chân đạp một nhát trúng bụng PTKD khiến PTKD bị ngã nghiêng về phía sau, PTKD cúi xuống bãi đất trống nhặt được một mảnh kính vỡ cầm ở tay phải ném văng từ dưới lên trên về phía ông BH khiến ông BH bị thương tích tại cẳng tay trái gây rách ra chảy máu. Sau đó, anh trai ông BH là NLQ1, sinh năm 1967; trú tại: Số 20/5, I, A, B, C cùng cháu họ ông BH là NLQ2, sinh năm 1977; trú tại: Số 11/5, I, A, B, C đã đi từ nhà ông BH sang nhà PTKD. Lời qua tiếng lại, ông NLQ1 đã dùng tay trái tát vào mặt PTKD, ngay sau đó PTKD dùng tay đánh lại thì bị anh NLQ2 dùng tay đẩy và dùng chân đạp về phía PTKD, PTKD lùi về phía trong sân nhà của PTKD, được mọi người can ngăn, ông NLQ1 và anh NLQ2 đi về. Ông BH được đi cấp cứu tại Bệnh viện J. Công an quận Hồng Bàng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án là một ổ khóa Việt Tiệp màu đen, phần quai khóa có vết cắt và hai mảnh kính thủy tinh vỡ màu trắng trong dày 0,4cm có bám dính tạp chất màu nâu đỏ.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 503/2019/TgT ngày 07-10-2019 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận về thương tích của ông BH như sau: Nạn nhân bị 01 vết thương rách da lớn cẳng tay trái có tổn thương cơ gấp cổ tay trụ và nhánh tận của động mạch gian cốt trước. Đã được phẫu thuật điều trị đang dần ổn định, còn nhiễm trùng tại vết thương và hạn chế vận động cẳng cổ tay trái. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do thương tích trên gây nên là 12%. Thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh sắc tác động trực tiếp theo hướng gần như vuông góc với bề mặt da nơi tổn thương gây nên.

Ngày 28-02-2020, PTKD có đơn đề nghị trưng cầu giám định lại đối với thương tích của bị hại BH.

Tại công văn số 27/2020/CV ngày 12-3-2020 của Trung tâm pháp y Hải Phòng xác định: Việc giám định thương tích đối với nạn nhân BH trong kết luận giám định pháp y số 503/2019/TgT ngày 07-10-2019 là hoàn toàn chính xác, khách quan và dựa trên cơ sở của Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12-6-2014. Do đó không có cơ sở để giám định lại đối với thương tích của ông BH.

Về thương tích của PTKD trong quá trình xô sát với ông BH, ông NLQ1 và anh NLQ2 do thương tích không đáng kể nên PTKD đã từ chối giám định thương tích và không có đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong giai đoạn điều tra ông BH yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, gồm tiền chi phí điều trị thương tích và tiền mất thu nhập. Bị cáo PTKD đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: Một ổ khóa Việt Tiệp màu đen, phần quai khóa có vết cắt, hai mảnh kính thủy tinh vỡ màu trắng trong dày 0,4cm có bám dính tạp chất màu nâu đỏ và số tiền 5.000.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.

Tại phiên tòa, bị cáo PTKD khai: Tối ngày 17-9-2019, sau khi xem lại camera an ninh thấy việc ông BH đã dùng máy cắt cầm tay cắt khóa cổng ngõ đi chung của gia đình bị cáo và một số hộ dân trong ngõ nên bị cáo đã đi ra đầu ngõ để nói chuyện với ông BH về việc trên nên hai bên đã xảy ra cãi chửi, xô đẩy nhau lùi vào trong ngõ đi chung. Khi đến khu vực bãi đất trống thì ông BH có dùng tay phải đánh vào vùng cổ, mặt của PTKD nên PTKD đã vung tay phải đánh trả ông BH hai đến ba cái nhưng không trúng. Ông BH dùng chân đạp vào bụng PTKD khiến PTKD bị ngã nghiêng về phía sau, PTKD cúi xuống nhặt được một vật cứng dùng tay phải ném về phía ông BH khiến ông BH bị thương tích tại cẳng tay trái gây rách ra chảy máu. Khi nghe tiếng mảnh kính vỡ rơi xuống mặt đường thì lúc đó bị cáo mới biết vật mà bị cáo dùng để ném ông BH là miếng kính thủy tinh. Sau đó, ông NLQ1 và anh NLQ2 (là anh trai và cháu họ ông BH) đi từ nhà ông BH sang nhà PTKD. Lời qua tiếng lại, ông NLQ1 đã dùng tay trái tát vào mặt PTKD, PTKD dùng tay đánh lại thì bị anh NLQ2 dùng tay đẩy và dùng chân đạp về phía PTKD, PTKD lùi về phía trong sân nhà của PTKD, sau đó mọi người can ngăn ra. Bị cáo cho rằng việc bị cáo ném mảnh kính về phía ông BH là nhằm ngăn chặn việc ông BH tiếp tục tấn công bị cáo. Do vậy hành vi của bị cáo là phòng vệ trong lúc tinh thần đang bị hoang mang và vô thức khi bị ông BH đánh.

Người bị hại là ông BH khai: Ngách 10/5, A, B là ngõ đi chung của các gia đình trong đó gia đình ông. Trước đây ông đã bán đất cho họ làm nhà ở và để ra một phần làm ngõ đi chung, gia đình ông vẫn sử dụng diện tích ngõ đi chung này là nơi cấp thoát nước sinh hoạt. Chiều ngày 17-9-2019 do hệ thống nước thải của gia đình gặp sự cố nên ông có đi vào ngách 10/5, A để kiểm tra nhưng do cổng bị khóa nên ông đã phải dùng máy cắt cầm tay để cắt khóa. Đến tối cùng ngày thì giữa ông và bị cáo PTKD đã xảy ra việc tranh cãi và xô đẩy nhau ở đầu ngách rồi cả hai cùng xô đẩy nhau lùi vào trong ngõ đi chung. Khi đến khu vực bãi đất trống thì ông có dùng tay phải đẩy vào vùng vai cổ của bị cáo PTKD và ngay lập tức bị cáo PTKD đã xô vào vung tay đánh ông liên tiếp hai đến ba cái nhưng không trúng. Ông BH đã dùng chân đạp vào bụng PTKD làm PTKD bị ngã về phía sau. Liền sau đó PTKD nhặt một mảnh kính vỡ cầm ở tay phải ném về phía ông trúng vào cẳng tay trái làm ông bị thương. Sau đó, anh trai ông là NLQ1 và cháu ông là NLQ2 có đi sang nhà PTKD. Hai bên có lời qua tiếng lại, ông NLQ1 đã dùng tay trái tát vào mặt PTKD thì PTKD dùng tay đánh lại và bị anh NLQ2 dùng chân đạp về phía PTKD. PTKD lùi về phía trong sân nhà và đu lên cổng đạp về phía NLQ2. Sau đó mọi người can ngăn ra và ông đã được anh NLC1 đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện giao thông. Ông BH thừa nhận việc mình đã dùng tay đánh và dùng chân đạp bị cáo là sai và có lỗi.

Người làm chứng là anh NLC1 trình bày: Sự việc xô sát giữa ông BH và bị cáo PTKD xảy ra tối 17-9-2019 anh được chứng kiến từ khi ông BH và bị cáo PTKD cãi cọ nhau tại khu vực bãi đất trống trong ngách 10/5, A, B. Lúc đó anh đứng cách ông BH và bị cáo PTKD khoảng 2 mét và tầm nhìn không bị che khuất. Anh nhìn thấy việc giữa ông BH và bị cáo PTKD có xảy ra cãi vã nhau, ông BH có dùng tay phải đẩy vào vùng cổ bị cáo PTKD thì bị cáo PTKD đã xông vào dùng tay đánh hai ba cái về phía ông BH nhưng không trúng nên ông BH có dùng chân đạp bị cáo PTKD ra làm bị cáo bị ngã về phía sau. Ngay tức khắc thì bị cáo PTKD đã vơ một vật gì đó ném về phía ông BH và anh có nghe thấy tiếng mảnh kính vỡ và thấy tay trái của ông BH bị rách da, chảy máu. Sau đó ông NLQ1 và anh NLQ2 có đi ra và có xảy ra việc xô sát với bị cáo PTKD. Bản thân anh là người đã chở ông BH đi cấp cứ tại Bệnh viện J.

Người làm chứng là anh NLC3 trình bày: Anh được chứng kiến sự việc từ khi ông BH và bị cáo PTKD bắt đầu cãi nhau và đi dần vào trong ngõ đi chung. Khi đó ông BH có dùng tay đánh vào vùng cổ bị cáo PTKD nên bị cáo PTKD đã khua hai tay lên mấy cái. Sau đó ông BH đã dùng chân đạp bị cáo PTKD bị ngã về phía bãi đất trống nên bị cáo đã vơ một vật và ném về phía ông BH. Khi nghe tiếng mảnh kính thủy tinh vỡ thì anh xác định được là bị cáo đã dùng mảnh kính ném trúng ông BH gây thương tích ở cổ tay trái làm rách da, chảy máu.

Người làm chứng là chị NLC2 trình bày: Chị được chứng kiến việc ông BH và bị cáo PTKD cãi cọ, xô đẩy nhau ở trong ngõ. Đến khi ông BH dùng chân đạp bị cáo PTKD thì chị sợ quá nên chạy vào trong nhà và không biết sự việc tiếp theo xảy ra như thế nào.

Ông NLQ1 và anh NLQ2 đều khai: Khi thấy ông BH chạy về nhà nói bị đánh gây thương tích thì ông NLQ1 và anh NLQ2 có đi ra và gặp bị cáo PTKD nên hai bên có xảy ra cãi cọ nhau, do bức xúc nên ông NLQ1 có dùng tay tát bị cáo PTKD một cái và anh NLQ2 có dùng chân dập PTKD một cái làm PTKD lùi vào trong sân. Bị cáo đã đu người lên cánh cổng lấy đà đạp về phía anh NLQ2, sau đó được mọi người có mặt ở đó can ngăn hai bên ra.

Cáo trạng số: 38/CT-VKSHB, ngày 22-6-2020, của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã quyết định truy tố bị cáo PTKD về tội "Cố ý gây thương tích", theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung: “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo PTKD về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, e khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo PTKD từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 36 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao PTKD cho Uỷ ban nhân dân phường B, quận C, thành phố Hải Phòng, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo PTKD có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền khoảng 2/3 của số tiền 42.424.000 đồng như bị hại đã yêu cầu.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một ổ khóa Việt Tiệp mầu đen phần quai khóa có vết cắt và hai mảnh kính thủy tinh vỡ mầu trắng trong dày 0,4 cm có bám dính tạp chất mầu nâu đỏ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo PTKD trình bày: Xem xét về nguyên nhân, điều kiện và hoàn cảnh phạm tội của bị cáo thấy rằng việc người bị hại đã có hành vi tự ý cắt khóa cổng của nhà người khác mà không rõ động cơ, mục đích. Hành vi này của người bị hại là vi phạm pháp luật và có dấu hiệu của tội hủy hoại tài sản. Khi xảy ra sự việc cãi cọ nhau thì chính bị hại đã có hành vi dùng tay bóp cổ bị cáo, dùng tay đánh vào vùng mặt của bị cáo và dùng chân đạp vào bụng của bị cáo. Trong hoàn cảnh đó bị cáo đã có những phản ứng tức thì và không có chủ định là vơ được bất cứ vật gì để ném văng về phía bị hại để nhằm ngăn cản sự tấn công của bị hại nên đây là hành vi phòng vệ. Trong vụ việc này thì nguyên nhân và lỗi chủ yếu là do bị hại gây ra. Do vậy xét việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cũng cần xem xét đến nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; bị cáo có bố đẻ là ông D là người có công với đất nước và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo là phụ nữ đang phải trực tiếp nuôi hai con nhỏ và trong vụ án này người bị là người có lỗi chính. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết nêu trên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Việc Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp nên quan điểm của luật sư là chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xét xử giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo. Còn việc bồi thường giữa bị cáo và bị hại thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Nội dung lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sửa chữa sai phạm của mình một cách sớm nhất và bị cáo xin lỗi người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên được phân công điều tra vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện, tuân thủ đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án đều hợp pháp.

- Về tội danh và căn cứ áp dụng hình phạt:

Lời khai tại phiên tòa của bị cáo, của người bị hại và những người làm chứng và các dữ liệu hình ảnh được trích xuất từ ca mera ghi lại hình ảnh diễn ra sự việc được trình chiếu công khai tại phiên tòa đã xác định được sự việc diễn ra như sau: Tối ngày 17-9-2019 tại ngách 10/5 An Trì, B có xảy ra sự việc cãi cọ nhau giữa ông BH và PTKD về việc ông BH tự ý dùng máy cắt cầm tay cắt khóa cổng của ngõ đi chung. Ông BH và bị cáo đã đưa nhau vào khu vực bãi đất trống ở trong ngõ và ông BH có dùng tay phải tác động vào vùng cổ bên trái của bị cáo. Bị cáo đã xông vào dùng tay đánh trả ông BH hai đến ba cái nhưng không trúng nên ông BH đã dùng chân đạp bị cáo PTKD làm bị cáo bị ngã ra và ông BH không có bất cứ hành vi tấn công gì tiếp theo đối với bị cáo PTKD. Ngay sau đó bị cáo PTKD đã nhặt một mảnh kính và ném trúng vào cẳng tay trái của ông BH gây thương tích như đã nêu ở trên.

Lời khai của người bị hại và người làm chứng tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bởi bản kết luận giám định pháp y số 503 ngày 07-10-2019 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận về thương tích của ông BH như sau: Nạn nhân bị 01 vết thương rách da lớn cẳng tay trái có tổn thương cơ gấp cổ tay trụ và nhánh tận của động mạch gian cốt trước. Đã được phẫu thuật điều trị đang dần ổn định, còn nhiễm trùng tại vết thương và hạn chế vận động cẳng cổ tay trái. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do thương tích trên gây nên là 12%. Thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh sắc tác động trực tiếp theo hướng gần như vuông góc với bề mặt da nơi tổn thương gây nên. Do vậy đã có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo PTKD đã dùng mảnh kính thủy tinh ném vào phần cẳng tay trái gây thương tích cho ông BH như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố.

- Chứng cứ xác định bị cáo không có tội:

Tại phiên tòa ngày 28-9-2020, Quan điểm của bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng việc bị hại dùng tay đánh vào mặt bị cáo và dùng chân đạp vào bụng bị cáo ngã ra phía sau và bị cáo đã vơ một mảnh kính ném về phía ông BH là nhằm để ngăn chặn việc bị hại tiếp tục có hành tấn công bị cáo và đó là hành vi đó phòng vệ chính đáng. Quan điểm bào chữa này là không có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ: Sau khi bị ông BH đẩy vào cổ thì bị cáo đã xông vào dùng tay đánh ông BH nên ông BH đã dùng chân đạp một cái vào bụng bị cáo làm bị cáo ngã ra. Ông BH không có hành vi gì tiếp theo để tấn công bị cáo. Trong trường hợp này bị cáo hoàn toàn có đủ điều kiện để lựa chọn cách xử sự khác theo quy định của pháp luật nhưng bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại. Như vậy xem xét mức độ tấn công của bị hại và hành vi đánh trả của bị cáo không thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng.

Đối với quan điểm bào chữa của luật sư về việc bị cáo bị kích động mạnh về tinh thần, thấy rằng: Bị hại có hành vi cắt phá khóa ngõ đi chung, nhưng đây là phần ngõ đi chung của nhiều hộ dân, bị hại trên thực tế cũng có quyền sử dụng chung đối với ngõ đi chung này. Việc bị hai tấn công, đánh bị cáo có mức độ như đã phân tích ở mục [5]. Như vậy, thấy rằng người bị hại cũng có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức độ nghiêm trọng và làm cho bị cáo bị kích động mạnh về tinh thần để dẫn đến việc gây thương tích cho bị hại như đã phân tích ở trên.

Xem xét, đánh giá về hành vi khách quan và ý thức chủ quan của bị cáo thấy: Thực tế trong hoàn cảnh đó bị cáo hoàn toàn có đủ điều kiện để lựa chọn cách xử sự khác để đảm bảo an toàn cho bản thân khi mà sự tấn công của bị hại đã dừng lại và mức độ tấn công của bị hại cũng chưa đến mức làm cho bị cáo phải rơi vào tình trạng hoảng loạn và vô thức như lời bị cáo khai tại phiên tòa. Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo còn tiếp tục có những lời lẽ và hành động đôi co với ông NLQ1 (anh trai ông BH) và anh NLQ2 (cháu ông BH). Khi bị anh NLQ2 dùng chân đạp bị cáo lùi vào trong sân nhà thì bị cáo đã đu người lên cánh cổng và đạp về phía anh NLQ2. Qua đó thấy rằng bị cáo luôn có ý thức sẵn sàng đối phó tay đôi với bất cứ người nào có va chạm với mình.

Bị cáo PTKD đã có hành vi cầm miếng kính thủy tinh ném gây thương tích đối với ông BH làm giảm 12% sức lao động nên phải chịu tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đồng thời còn gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; tại giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại. Mặt khác, trong vụ việc này người bị hại có lỗi đáng kể do việc đã tự ý cắt khóa cổng ngõ đi chung của các gia đình trong ngõ trong đó có gia đình bị cáo nên đã làm nguyên nhân xảy ra sự việc xô sát và người bị hại đã có hành vi tấn công bị cáo trước, cụ thể là đã dùng tay phải đánh vào vùng cổ bên trái của bị cáo và khi bị cáo xông vào vung tay đánh về phía bị hại nhưng không trúng thì bị hại đã dùng chân đạp bị cáo ngã ra phía sau nên dẫn đến việc bị cáo đã vơ mảnh kính ném về phía bị hại nên trong trạng thái như vậy thì tinh thần của bị cáo có bị kích động do hành vi của bị hại gây ra. Do vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và có bố đẻ là ông D là người có công với đất nước và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Bởi vậy, có thể áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, coi đây là tình tiết giảm nhẹ khác khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 của Điều 51 Bộ luật hình sự như đã phân tích ở trên nên thấy không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà chỉ cần cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo ngoài xã hội và xem xét xử bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại với số tiền trên cở sở Đơn đề nghị bồi thường đề ngày 21-8-2020 với số tiền là 42.424.000 đồng, gồm các khoản: Tiền thuốc và chi phí tại bệnh viện là 9.424.000 đồng; tiền ăn bồi dưỡng trong những ngày nằm viện: 150.000 đồng/ngày x 10 ngày = 1.500.000 đồng; tiền công cho người chăm sóc: 150.000 đồng/ngày x 10 ngày = 1.500.000 đồng và tiền thu nhập bị mất là 15.000.000 đồng x 2 tháng = 30.000.000 đồng. Trừ đi số tiền mà bị cáo đã nộp là 5.000.000 đồng thì bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền còn lại là 37.424.000 đồng.

Xét yêu cầu bồi thường của người bị hại với các khoản tiền cụ thể như trên là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, như đã phân tích ở mục [10] thì bị hại cũng có lỗi một phần nên bị hại cũng phải gánh chịu một phần thiệt hại. Do vậy bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường khoảng 2/3 và ông BH phải tự chịu khoảng 1/3 phần còn lại, tính trên tổng số tiền yêu cầu bồi thường nêu trên, cụ thể: Bị cáo PTKD phải chịu số tiền bồi thường là: 42.424.000 đồng x 2/3 = 28.282.000 đồng. Trừ đi số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp thì bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho người bị hại số tiền là: 23.282.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 ổ khóa Việt Tiệp mầu đen phần quai khóa có vết cắt và 02 mảnh kính thủy tinh vỡ mầu trắng trong dày 0,4 cm có bám dính tạp chất mầu nâu đỏ, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về việc ông BH, ông NLQ1 và anh NLQ2 sau khi thấy ông BH bị gây thương tích có tham gia xô sát với bị cáo PTKD. Tuy nhiên do thương tích không đáng kể và bị cáo PTKD từ chối giám định thương tích và không đề nghị việc bồi thường nên Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với ông BH, ông NLQ1 và anh NLQ2.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, e khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo PTKD 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án, về tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao bị cáo PTKD cho Uỷ ban nhân dân phường B, quận C, thành phố Hải Phòng, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo PTKD có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Hủy bỏ Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 27b/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 01-7-2020 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã áp dụng đối với bị cáo PTKD.

Căn cứ vào các điều 584, 585, 587 và 590 của Bộ luật Dân sự; xử: Buộc bị cáo PTKD phải bồi thường về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông BH với số tiền là 28.282.000 (Hai mươi tám triệu hai trăm tám hai nghìn) đồng. Trừ đi số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng bị cáo đã nộp bồi thường cho ông BH (theo biên lai số AA/2010/7575, ngày 30-6-2020 tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng) thì bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là 23.282.000 (Hai mươi ba triệu hai trăm tám hai nghìn) đồng.

Kể từ khi bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với khoản tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy đối với 01 ổ khóa Việt Tiệp mầu đen phần quai khóa có vết cắt và 02 mảnh kính thủy tinh vỡ mầu trắng trong dày 0,4 cm có bám dính tạp chất mầu nâu đỏ.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng ngày 30-6-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết của UBTV Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo PTKD phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm và 1.164.000 (Một triệu một trăm sáu tư nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa đều được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích về chế định án treo đối với bị cáo PTKD)

Cỡ chữ