vanban.org

Bản án 74/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lô Thị T đối với anh Nguyễn Văn Ch về việc ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị T đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn Ch. (Giấy chứng nhận kết hôn số 09 do Ủy ban nhân dân phƣờng Th, thành phố H, tỉnh H cấp ngày 02/3/2009). Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 10/10/2009 cho chị Lô Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lô Thị T và Nguyễn Văn Ch yêu cầu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lô Thị T đối với anh Nguyễn Văn Ch về việc ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 74/2020/HNGĐ-ST
Ngày 06-8-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH B NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hà - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 212/2020/TLST-HNGĐ ngày 20-3-2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2020, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Lô Thị T, sinh năm 1983; thƣờng trú: Khu phố Đ, phƣờng Th, thành phố H, tỉnh H; tạm trú: Số 25/4 khu phố Th, Phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1981; thƣờng trú: Khu phố Đ, phƣờng Th, thành phố H, tỉnh H; tạm trú: Số 25/4 khu phố Th, Phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03-02-2020 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lô Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Ch tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2009. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Th, thành phố H, tỉnh Hà và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 02/3/2009. Chị T xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung, không có sự đồng cảm và chia sẻ lẫn nhau. Chị T đã cố gắng hàn gắn T cảm nhiều lần nhƣng không có kết quả. Vợ chồng không còn T cảm, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị T xác định T cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn Ch.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 10/10/2009. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu đƣợc quyền trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Ch thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Ch đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Ch hiện đang tạm trú tại số 25/4 khu phố Thống Nhất 1, Phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 17/7/2020 và ngày 06/8/2020 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị T và anh Ch tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Th, thành phố H, tỉnh H và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 02/3/2009 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị T xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đƣợc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung, không có sự đồng cảm và chia sẻ lẫn nhau. Chị T đã cố gắng hàn gắn T cảm nhiều lần nhƣng không có kết quả nên chị yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Ch.

Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh, trƣớc khi Tòa án thụ lý vụ án chị T và anh Ch không ai có đơn đề nghị hòa giải tại cơ sở, phù hợp với lời khai của nguyên đơn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Chị T xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, phát sinh trong thời gian dài không hàn gắn đƣợc. Anh Ch đã đƣợc Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải nhƣng đều vắng mặt, không cung cấp lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Nhƣ vậy chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị T và anh Ch đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, chị T yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Ch là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 10/10/2009. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng con. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho ba hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, cháu Tr từ trƣớc đến nay sống cùng ba mẹ đƣợc đi học và phát triển tốt. Chị T có việc làm, có thời gian đảm bảo tốt cho việc chăm sóc và nuôi dƣỡng con; hơn nữa trong bản tự khai cháu Tr mong muốn đƣợc sống cùng với mẹ. Anh Ch đƣợc Tòa án triệu tập làm việc nhiều lần nhƣng đều vắng mặt, không có ý kiến về con chung, không cung cấp chứng cứ chứng minh anh có việc làm và thu nhập. Vì vậy, chị T yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là có căn cứ, phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T không yêu cầu anh Ch cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lô Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và các Điều 227, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lô Thị T đối với anh Nguyễn Văn Ch về việc ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lô Thị T đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn Ch. (Giấy chứng nhận kết hôn số 09 do Ủy ban nhân dân phƣờng Th, thành phố H, tỉnh H cấp ngày 02/3/2009).

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bảo Tr, sinh ngày 10/10/2009 cho chị Lô Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

- Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị Lô Thị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau ly hôn, chị T và anh Ch đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Ch lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị T nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Lô Thị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lô Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0040249, ngày 19/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM

Cỡ chữ