vanban.org

Bản án 74/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 15/05/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn B.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn B được ly hôn chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Giao con chung là Trần Thị Linh N, sinh ngày 13/12/2012 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Bộ + Thương"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2020/HNGĐ-ST
Ngày 15-5-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Biên

Ông Trần Đăng Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 38/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn B; nơi cư trú: PH, phường ĐP, quận DK, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T; nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: PH, phường ĐP, quận DK, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Trung Quốc. Vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Trần Văn B trình bày:

Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T trên cơ sở tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND phường ĐP, quận DK, thành phố Hải Phòng vào ngày 14 tháng 02 năm 2012. Quá trình chung sống của vợ cH hạnh phúc được đến cuối năm 2016. Nguyên nhân là do khi chung sống, anh và chị T có Nều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Đến khoảng đầu năm 2017 chị T bỏ đi sang Trung Quốc làm ăn và sinh sống. Từ đó tình cảm vợ cH ngày càng xa cách, mâu thuẫn vợ cH ngày càng trầm trọng. Mặc dù mâu thuẫn của vợ cH đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Hiện tại, anh không còn liên lạc với chị T nữa. Tuy Nên, chị T vẫn liên lạc với người thân trong gia đình chị: Ông Nguyễn Văn H, địa chỉ: Thôn Lý Nhân, xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng – là bố đẻ chị T. Anh và chị T sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay, anh nhận thấy tình cảm vợ cH không còn, mâu thuẫn vợ cH đã trầm trọng nên anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị T để anh nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ cH anh chị có một con chung là: Trần Thị Linh N, sinh ngày 13/12/2012. Khi chị T đi Trung Quốc đã mang cháu theo, hiện tại cháu đang ở với chị T. Ly hôn anh để chị T được nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự giải quyết với chị T. Anh không thể cung cấp ý kiến của cháu N vì cháu N đang ở với chị T nên không có ý kiến của cháu về việc cháu ở với ai.

Về tài sản chung: Anh xin tự giải quyết với chị T về tài sản chung và anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Thị T:

Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho bố đẻ chị T là ông Nguyễn Văn H. Tòa án đã 2 lần thông báo cho ông Nguyễn Văn H cung cấp địa chỉ của chị T ở Trung Quốc và yêu cầu ông H cho biết kết quả về việc ông đã thông báo cho chị T để gửi lời khai về Tòa án chưa. Tuy Nên, ông H vẫn không thực hiện yêu cầu trên của Tòa án. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Văn H thể hiện: Chị T vẫn thường xuyên liên lạc với ông nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể chị T ở Trung Quốc. Ông H cũng chưa thông báo cho chị T về yêu cầu của Tòa án. Tuy Nên chị T biết việc anh B xin ly hôn và chị đồng ý nhưng chị không gửi lời khai hay bất cứ tài liệu nào khác về cho Tòa án. Ông Nguyễn Văn H đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh B về quan hệ vợ cH, con chung và tài sản chung.

Tại phiên tòa, anh Trần Văn B và chị Nguyễn Thị T đều vắng mặt. Tại đơn đề nghị xin vắng mặt của anh B thể hiện anh vẫn giữ nguyên lời khai như tại đơn khởi kiện, bản tự khai.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đa chấp hành đúng cã

́c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự; nguyên đơn đa thực hiện đũ

́ng các quyền và nghia vu ̣, tham gia phiêñ tòa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự ; bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 B luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh Trần Văn B và chị Nguyễn Thị T xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND phường ĐP, quận DK, thành phố Hải Phòng vào ngày 14 tháng 02 năm 2012 là hôn nhân hợp pháp. Tuy Nên, xét thấy mâu thuẫn vợ cH anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh B. Về con chung: Giao con chung là Trần Thị Linh N, sinh ngày 13/12/2012 cho chị T nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung anh B xin tự giải quyết với chị T nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung: Anh B xin tự giải quyết với chị T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự tại phiên tòa, xét thấy:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn. Nguyên đơn anh Trần Văn B hiện nay đang sinh sống tại Hải Phòng, bị đơn chị Nguyễn Thị T đang sinh sống ở Trung Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của B luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Trần Văn B và chị Nguyễn Thị T đều vắng mặt, anh B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị T: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của B luật Tố tụng dân sự nhưng chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 B luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn B và chị Nguyễn Thị T xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND phường ĐP, quận DK, thành phố Hải Phòng vào ngày 14 tháng 02 năm 2012 theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2010 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ cH hạnh phúc được đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ cH anh chị không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn vợ cH anh chị ngày càng trầm trọng nên đến khoảng đầu năm 2017 chị T bỏ đi sang Trung Quốc làm ăn và sinh sống. Chính vì sự xa cách về địa lý nên vợ cH tình cảm vợ cH ngày càng xa cách. Vợ cH anh chị đã sống ly thân với nhau được một khoảng thời gian dài, mâu thuẫn vợ cH đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Xét thấy mâu thuẫn vợ cH anh B và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ ly hôn của anh B.

Về con chung: Anh Trần Văn B và chị Nguyễn Thị T có một con chung là: Trần Thị Linh N, sinh ngày 13/12/2012. Hiện tại con chung đang ở với chị T ở nước ngoài. Ly hôn, anh B đề nghị để chị T được nuôi dưỡng con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh B xin tự giải quyết với chị T. Xét thấy, theo lời khai của anh B và gia đình chị T có thể xác định: Cháu N đang ở với chị T ở nước ngoài nên Tòa án không thể lấy được lời khai của cháu, anh B và gia đình chị T không cung cấp được ý kiến của cháu N về quan điểm của cháu ở với anh B hay chị T khi anh chị ly hôn. Tuy Nên, gia đình chị T đề nghị để chị T được nuôi con chung, anh B cũng đồng ý để chị T được nuôi con chung. Do đó, cần giao con chung cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Anh Trần Văn B không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, anh xin tự giải quyết với chị Nguyễn Thị T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn B là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn B và chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của B luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn B được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

2. Về con chung: Giao con chung là Trần Thị Linh N, sinh ngày 13/12/2012 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Trần Văn B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Anh Trần Văn B không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, anh xin tự giải quyết với chị Nguyễn Thị T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân

́ sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là

300.000đ (ba trăm nghìn đồng ) theo Biên lai số AA/2010/3943 ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Trần Văn B đa nô ̣̃ p đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Anh Trần Văn B (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ