- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị Ngọc Ph được ly hôn anh Nguyễn Khắc Th (Q).
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2020. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Minh Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khóa và bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu - Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở TAND tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2020/TLST-HNGĐ ngày 11/5/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08/7/2020, Thông báo số 01/TB-TA ngày 09/7/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Ngọc Ph - sinh năm 1996.
Nơi ĐKHKTT: Thôn TK, xã KG, huyện CG, tỉnh HD
Nơi cư trú hiện nay: Thôn C, xã LC, huyện BGG, tỉnh HD.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc Th (tên gọi khác: Q), sinh năm 1988.
Nơi ĐKHKTT: Thôn TK, xã KG, huyện CG, tỉnh HD; Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
Chị Ph và anh Th đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, chị Ph trình bày: Chị và anh Th (Q) được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 13/9/2013 tại UBND xã KG, huyện CG, tỉnh HD (nay là UBND thị trấn CG, huyện CG, tỉnh HD). Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 2 năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Th không tu chí làm kinh tế, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng thường cãi vã. Tháng 6 năm 2015 anh Th đi lao động tại Đài Loan, sau đó giữa chị và anh Th không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, chị ở với gia đình chồng chồng không được thoải mái nên tháng 10/2018 chị đưa con về ngoại sống. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn B Th, sinh ngày 06/5/2013, hiện con đang ở cùng chị. Nếu ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con và tự nguyện không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả 300.000 đồng án phí ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị không cung cấp được địa chỉ của anh Th (Quảng) tại Đài Loan vì vợ chồng không liên lạc từ lâu.
- Bà Vũ Thị Ngh (mẹ đẻ anh Th) trình bày: Anh Th và chị Ph kết hôn trên cơ sở tự nguyện năm 2013, sau khi kết hôn anh chị sống cùng vợ chồng bà đến tháng 6 năm 2015 anh Ph đi lao động tại Đài Loan, cuối năm 2015 chồng tôi mất anh Th cũng không về chịu tang bố được. Đến khoảng tháng 8 năm 2018, chị Ph tự ý mang đồ đạc, đưa con về nhà ngoại sống, từ đó đến nay chị Ph chưa về. Anh Th thường xuyên liên lạc về gia đình, qua gọi điện cho anh Th thì bà được biết anh chị có mẫu thuẫn, nguyên nhân cụ thể bà không nắm bắt được. Sau khi nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản của Tòa án, bà đã thông báo qua điện thoại cho anh Th biết về việc chị Ph làm đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Anh Th không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể ở Đài Loan và không trình bày ý kiến bằng văn bản gửi về cho Tòa án, nhưng có ý kiến nếu chị Ph kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng nhất trí ly hôn. Về con chung anh Th và gia đình nhất trí giao con cho chị Ph nuôi, nếu chị Ph lập gia đình với người khác thì bà sẽ đón cháu về nuôi. Về tài sản: Chị Ph không yêu cầu nên anh Th và bà cũng không đề nghị giải quyết.
Tại công văn số 7927/QLXNC-P5 ngày 01/6/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an xác định anh Nguyễn Khắc Th, sinh ngày 19/12/1988, CMND số: xxxxxxxxx, địa chỉ thường trú: KG, CG, HD; xuất cảnh ngày 26/5/2015, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xác định việc chấp hành tố tụng của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cơ bản đảm bảo quy định của pháp luật tuy nhiên việc Th thập tài liệu và thời hạn chuẩn bị xét xử chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 476 BLTTDS; đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn tiếp tục cung cấp địa chỉ của bị đơn đến hết thời hạn chuẩn bị xét xử nên không phát biểu quan điểm về đường lối giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trịnh Thị Ngọc Ph vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đề nghị xin xử vắng mặt do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Ph.
Anh Nguyễn Khắc Th (Q) là bị đơn trong vụ án là người Việt Nam đang lao động tại Đài Loan nhưng không rõ địa chỉ, tuy nhiên anh Th vẫn thường xuyên liên lạc với thân nhân ở trong nước. Tòa án đã yêu cầu chị Ph cũng như mẹ đẻ anh Th cung cấp địa chỉ của anh Th nhưng không có kết quả, nên Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh Th vẫn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Th.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn cho đến khi hết thời hạn xét xử theo Điều 476 BLTTDS. Đây là trường hợp bị đơn giấu địa chỉ nên không thực hiện theo quy định tại Điều 476 BLTTDS và không Thộc trường hợp tạm ngừng phiên tòa. Mặt khác, Tòa án đã tiến hành làm việc với gia đình anh Th là bà Vũ Thị Ngh (mẹ đẻ của anh Th) và đã yêu cầu bà cung cấp địa chỉ của anh Th tại nước ngoài tuy nhiên bà không cung cấp được, do vậy Tòa án đã tống đạt những văn bản tố tụng cho anh Th thông qua bà Ngh, bà đã thông báo nội dung văn bản cho anh Th là phù hợp với quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không có cơ sở chấp nhận.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ph và anh Th được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13/9/2013 tại UBND xã KG, huyện CG, tỉnh HD (nay là UBND thị trấn CG, huyện CG, tỉnh HD). Do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị Ph và anh Th sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị Ph nguyên nhân mâu thuẫn do anh Th không tu chí làm kinh tế, không quan tâm đến mẹ con chị và từ năm 2015 anh Th đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng ít liên lạc, không quan tâm đến nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th; thông qua bà Ngh là mẹ đẻ anh Th cho biết quan điểm anh Th cũng xác định vợ chồng đã mâu thuẫn từ lâu, nhất trí ly hôn. Xét mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ph, xử cho chị Ph được ly hôn anh Th (Quảng) là phù hợp.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn B Th, sinh ngày 06/5/2013, hiện đang được chị Ph chăm sóc và nuôi dưỡng. Quan điểm của chị Ph đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, chị tự nguyện không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét nguyện vọng của chị Ph xin được nuôi con thì thấy: hiện tại anh Th đang ở nước ngoài, con chung của anh chị hiện vẫn còn nhỏ và đang do chị Ph trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Th cũng nhất trí để chị Ph nuôi con theo quy định của pháp luật. Do vậy cần giao con Nguyễn B Th cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi và chấp nhận sự tự nguyện của chị Ph không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và công nợ: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Ph là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị Ngọc Ph được ly hôn anh Nguyễn Khắc Th (Q).
2. Về con chung: Giao chị Trịnh Thị Ngọc Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn B Th, sinh ngày 06/5/2013 cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ph không yêu cầu anh Nguyễn Khắc Th (Q) cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Th (Q) có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trịnh Thị Ngọc Ph phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai Th số AA/2018/0002146 ngày 11/5/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Ph đã nộp xong án phí sơ thẩm ly hôn.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Ph vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh Th (Q) đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND thị trấn CG, huyện CG, tỉnh HD; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Mạc Minh Quang |