vanban.org

Bản án 74/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được quyền ly hôn với ông Dư Thanh H. Về con chung: Giao cháu Dư Bảo T, sinh ngày 13/3/2006 cho bà Nguyễn Thị Cẩm H và giao cháu Dư Gia B, sinh ngày 23/11/2007 cho ông Dư Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng cho con. Ông H, bà H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 18 – 12 – 2020
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

2/ Ông Trần Hoàng Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 214/2020/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2020/QĐXXST–HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H; Sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp G, thị trấn T, huyện T, tỉnh S (Vắng mặt – có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Dƣ Thanh H; Sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp G, thị trấn T, huyện T, tỉnh S (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:

Bà H với ông H tổ chức lễ cưới vào năm 2005. Nhưng đến năm 2006 ông bà mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (Nay là huyện T), tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 170 ngày 01 tháng 11 năm 2006. Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến năm 2017 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên nhậu nhẹt, bà H nói hoài ông H vẫn không sửa đồi. Ngoài ra, chuyện làm ăn thất bại làm cho vợ chồng cãi vã thường xuyên dẫn đên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hai người không còn chung sống với nhau từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay.

Trong quá trình chung sống, bà H với ông H có hai con chung tên Dư Bảo T, sinh ngày 13/3/2006 và Dư Gia B, sinh ngày 23/11/2007. Hiện cháu Bảo T đang sống cùng bà H, cháu Gia B đang sống cùng ông H.

Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Nay bà Nguyễn Thị Cẩm H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Dư Thanh H.

- Về con chung: Bà Hồng yêu cầu được nuôi cháu Bảo T và đồng ý cho cháu Gia B sống với ông H, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Dư Thanh H không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 214/TB-TLVA ngày 06 tháng 10 năm 2020, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Dư Thanh H nhưng ông H không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do. Do đó, ông H không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt ông H, lập biên bản không tiến hành hòa giải được đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm H ly hôn với ông Dư Thanh H. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dư Bảo T và giao cho ông Dư Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dư Gia B, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Dư Thanh H đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà Hồng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, còn ông H mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hàng xét xử vắng mặt đối với bà H và ông H.

Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Dư Thanh H. Về con chung, bà Hồng yêu cầu nuôi cháu Bảo T, còn ông H nuôi cháu Gia B, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm H với ông Dư Thanh H là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc cho đến tháng 9 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên nhậu nhẹt và chuyện làm ăn thất bại nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai người không còn chung sống với nhau từ tháng 09 năm 2020. Mặc dù, ông bà cùng sống trên địa bàn ấp G, thị trấn T nhưng không ai tới lui, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà H yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Cháu Dư Bảo T, sinh ngày 13/3/2006 đang sống cùng bà H và cháu Dư Gia B, sinh ngày 23/11/2007 đang sống cùng ông H. Theo văn bản trình bày ý kiến đề ngày 11/11/2020, cháu Bảo T trình bày có nguyện vọng được sống với mẹ, cháu Gia B trình bày có nguyện vọng được sống với cha nếu cha và mẹ hai cháu ly hôn. Bà H yêu cầu được nuôi cháu Bảo T và đồng ý cho ông Hùng nuôi cháu Gia B. Xét thấy, từ khi ông H và bà H không còn sống chung thì cháu Bảo T do bà H nuôi dưỡng và cháu Gia B do ông H nuôi dưỡng. Cả ông H và bà H đều có đủ điều kiện nuôi con nên yêu cầu của bà H là có căn cứ chấp nhận được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông H và bà H không yêu cầu nên không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà H trình bày không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà H yêu cầu nên bà H phải chịu theo luật định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được quyền ly hôn với ông Dư Thanh H.

- Về con chung: Giao cháu Dư Bảo T, sinh ngày 13/3/2006 cho bà Nguyễn Thị Cẩm H và giao cháu Dư Gia B, sinh ngày 23/11/2007 cho ông Dư Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng cho con. Ông H, bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông H, bà H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến con chung. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2017/0005674 ngày 30/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà Nguyễn Thị Cẩm H đã nộp xong án phí.

- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ