vanban.org

Bản án 74/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/10/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/10/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông H và ông T tranh chấp QSDĐ,lối đi"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 156 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 74/2020/DS - PT
Ngày: 21/10/2020
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất, lối đi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Nhài.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2020/TLPT- DS ngày 16/4/2020 về tranh chấp quyền sử du ̣ng đất và lối đi.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2020/DS - ST ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân huyê ̣nPhú Lương, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 69/QĐPT-DS ngày 02 tháng 6năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lưu Văn H, sinh năm 1947 (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Mạc Văn T, sinh năm 1962 (có mặt);

Đều trú tại: Xóm NB, xã PL, huyện PL1, Thái Nguyên.

3. Ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan:

Bà Lưu Thi ̣ K, sinh năm 1963 (có mặt);

Trú tại: Xóm NB, xã PL, huyện PL1, Thái Nguyên.

4. Ngườ i làm chứng:

Ông Lã Văn Đ-Công chức đi ̣a chính-xây dựng xã Phủ Lý (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ Á N

Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Lưu Văn H trình bày:Ông có thửa đất rừng tại thửa số 42 tờ bản đồ số 18 diện tích 753m2 khai hoang canh tác từ năm 1973. Năm 2013, ông được Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2015 ông Mạc Văn T đa đến thửa đất củã ông phát dọn một số cây gỗ tạp và trồng keo lên đó, ông đa nhắc nhở nhưng̃ ông T vẫn tiếp tục lấn chiếm đất của ông, phần đất ông T lấn chiếm là một phần của thửa đất số 42 tờ bản đồ 18 diện tích khoảng 290,25m2. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Mạc Văn T phải thu hoạch cây keo trên đất và trả lại cho ông toàn bộ phần đất đa lấn chiếm. Tại vị trí đường đi liền thửa với thửa đất số 42 củã ông, ông T đã đào hào và trồng 07 cây keo rào chắn lối đi vào phần đất nhà ông, đây là đườ ng đi la ̣i hàng ngày của ông từ diện tích đất bên trong ra bên ngoài, làm cản trở rất nhiều cho việc đi lại . Ông yêu cầu ông Mạc Văn T phải chặt 07 cây keo, dỡ rào chắn trả la ̣i lối đi cho ông .Yêu cầu ông Tphải bồi thường thời gian xảy ra tranh chấp vì ông phải nghỉ việc để đi kiện. Ông đa phải làm 31 lá̃ đơn gửi các cơ quan chức năng ở Trung ương và đi ̣a phương nay yêu cầu ông T phải trả cho ông mỗi láđơn là một ngày công lao động tương đương 100.000 đồng/1 ngày, 31 lá đơn = 3.100.000đ (ba triệu, một trăm nghìn đồng) và yêu cầu ông T phải bồi thường tổn ha ̣i về danh dự do ông theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣. t

Bị đơn ông Mạc Văn T trình bày: Năm 1985, ông được nhà nước giao đất, giao rừng tại thửa đất số 46 tờ bản đồ số 18 diện tích 2.256m2, quá trình sử dụng đất, gia đình ông không có tranh chấp với ai. Năm 2004, Nhà nước đo đa ̣c lại đa cắt phía bên dưới đường đi thành hai thửa, một là thửa gần mương thoát̃ nước, hai là thửa dưới chân bãi của ông. Năm 2008, gia đinh ông khai thác một

̀ số cây gỗ tạp để trồng keo, sau đó đến năm 2014 ông khai thác số keo này không thấy ai cóý kiến gì. Năm 2015 khi chuẩn bị trồng keo vụ mới thìông H có nói là đất của ông H rồi làm đơn ra UBND xã Phủ Lý, huyện Phú Lương. Lý do vì sao thửa đất của ông lại mang tên ông H thìông cũng không rõ nhưng nguồn gốc diện tích đất tranh chấp này là của gia đình ông.

Về phần lối đi: Phần đất lối đi này cũng nằm trong mảnh đất gia đinh ông,

̀ năm 2015 ông cho cháu của mình là Mạc Văn B, trú tại xóm NB, xã PL, huyện PL1 làm đường qua bãi chè chiều dài khoảng hơn 10m tiếp giáp với khu đất nhà ông H. Khi ông trồng keo xuống thì ông H nói đây là đường đi chung, nhưng thực tế đây chỉ là đường dân sinh mở để đi lại, chăn thả gia súc và nằm trong thửa đất của ông.

Đối với yêu cầu về tranh chấp sử dụng đất và yêu cầu mở lối đi của ông H, ông không nhất trí vì không có căn cứ.

Đối với các yêu cầu về bồi thường thiê ̣t hại về tài sản, ngày công nghỉ việc theo kiện, bồi thường tổn hại về danh dự, bồi thường về số tiền vận đơn gửi các cơ quan, ông không nhất trí vì không có căn cứ.

Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Nguyễn Thi ̣ K (vợ ông T) nhất trí với lời khai và quan điểm của ông T.

Ủy ban nhân dân xã Phủ Lý, huyện Phú Lương có quan điểm: Năm 2013, thực hiện việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đinh, cá nhân trên đi ̣a bàn xã PL, trong đó có hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận ̀ quyền sử dụng đất của ông Lưu Văn H xóm NB, xã PL, huyện PL1. Việc thiết lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được công khai, khách quan và đúng quy trình theo quy đi ̣nh của pháp luật.

Về lối đi: Qua xác minh hiện trạng, đường đi không thể hiện trên bất kỳ hệ thống bản đồ nào từ trước tới nay mà chỉ là đường dân sinh phục vụ nhu cầu cho một số hộ dân đi lại, chăn thả gia súc. Mặt khác vị trí, diện tích của đườ ng đi này nằm hoàn toàn trong thửa số 42 tờ bản đồ số 18 mang tên chủ sử dụng là ông Lưu Văn H. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Tại biên bản xem xét thẩm đi ̣nh ngày 04/01/2018 Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất tranh chấp ta ̣i thử a 42 tờ bản đồ 18 là 290,25m2có tứ cạnh như sau: Phía Đông giáp đất của ông H (thử a số 45); Phía Tây thuộc thử a 42 của ông H; Phía Nam giáp thửa 94 của ông H; Phía Bắc giáp đường giao thông. Diện tích đất tranh chấp lối đi là: 25,4m.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 22/3/2018 xác định:

-Diê ̣n tich đất tranh chấp 290,25m2 x 8.000đ/m2 = 2.322.000đ.

́

- Diện tích lối đi 25,4m2 x 8.000đ/m2 = 203.200đ.

* Giá trị tài sản trên đất:

- 01 cây gỗ ta ̣p 43cm x 150.000đ; 22 cây keo đường kính từ 09 - 10 cm x 35.000đ = 770.000đ;20 cây keo có đườ ng kinh từ 04 - 05cm x 14.500đ =

́

490.000đ; 07 cây keo có đườ ng kinh từ 01-02 cm x 7.500đ = 52.500đ;

́

Tổng giá tri ̣ tài sản tranh chấp là 3.787.000đ (ba triệu, bẩy trăm tám mươi bẩy nghìn đồng).

Với nội dung nêu trên, tại bản án số 08/2020/DS-ST ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đa xét xử và quyếtđịnh:̃ Căn cứ: Các Điều 5; 26; 35; 39; 46; 146; 147; 156; 157; 158; 164; 165; 166; 171; 210; 211; 225; 227; 236; 266; 271 và 273 Bộ luâ ̣t tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584; 589; 592 Bộ luâ ̣t dân sự năm 2015; Điều 4; khoản 2 Điều 5; Điều 97; 99; 100; 105; 135; khoản 5 Điều 166; Điều 202 và 203 Luâ ̣t đất đai năm 2013; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu , miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Buộc ông Mạc Văn T và bà Lưu Thi ̣ K phải thu hoạch toàn bộ số cây keo đa trồng trên phần đấtđã lấn chiếm và trả lại diện tích 290,25m2 tại thữ

̉ a đất số 42 tờ bản đồ số18 bản đồ địa chính xãPL cho ông Lưu Văn H.

- Buộc ông Mạc Văn T và bà Lưu Thi ̣ K dỡ bỏ hàng rào chắn và thu hoạch số cây keo tại phần đất lối đi và trả lại diê ̣n tích 25,4m2 nằm trong thửa đất số 42 tờ bản đồ số 18 cho ông Lưu Văn H.

2. Không chấp nhâ ̣n các yêu cầu về: Bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i do nghi viê ̣̉

c để đi khở i kiê ̣n; Bồi thường do danh dự uy tín bị tổn hại; Bồi thường 31 (ba mươi mốt) lá đơn tương ứng với31 ngày công lao động phổ thông của ôngLưu Văn H.

3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận của ông H. Ông Mạc Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy đi ̣nh của pháp luật.

Ngày 09/3/2020 và ngày 13/3/2020 ông Lưu Văn H cóđơn kháng cáo không nhất trí một phần bảnán sơ thẩm về việc buộc ông T bà K thu hoạch toàn bộ số cây trồng trên đấtđã lấn chiếm mà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết giao số cây keo trên phần đất tranh chấp cho UBND xã Phủ Lý hoặc nhân dân xóm NB thu hoạch bán lấy tiềnđưa vào công quỹ.

Ngày 10/3/2020 ông Mạc Văn T có đơn kháng cáo không nhất trí trả lại đất và lốiđi cho ông Lưu Văn H vì ông cho rằng đất này có nguồn gốc là cha mẹ ông để lại, ông trực tiếp quản lý canh tác từ năm 1982. Đề nghị Tòa án tỉnh xét xử bác toàn bộ yêu cầu của ông H.

Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành thẩm định lại. Kết quả thẩm định của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên như sau: Về tài sản trên đất tranh chấp gồm:01 cây gỗ ta ̣p 43cm; 19 cây keo có đường kinh từ 09 - 10 cm; 14 cây keo có đườ ng kinh từ 04 - 05 cm; 05 cây keo

́

́ có đường kính từ 01 - 02 cm (nằm trong phần tranh chấp lối đi); Về vị trí, diện tích đất tranh chấp: Theo bản trích đo hiện trạng thì diện tích đất tranh chấp là đất trồng cây: 232,1m2, trong đó diện tích nằm trong thửa 42 tờ bản đồ số 18 là 196,1m2, nằm vào đường 11,2m2, nằm vào thửa 45 là 24,8m2. Tổng diện tích đất các đương sự tranh chấp là 196,1m2 vị trí theo sơ đồ gồm các điểm BEFRSHLMNCB; Về diện tích tranh chấp lối đi là 25,2m2 vị trí theo sơ đồ ABCDA nằm trong thửa 42. Các đương sự đều nhất trí lấy số liệu diện tích đo đạc do cấp phúc thẩm để giải quyết.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lưu Văn H và ông Mạc Văn T vẫn giữ nguyên nội dung đa kháng cáo.̃

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụán và nghe lời trình bày của các đương sự; ý kiến củađại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định UBND xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đúng, cần xác định lại ông Lã Văn Đ - công chức địa chính, xây dựng xã Phú Lý là người làm chứng.

[2] Xét kháng cáo của ông Mạc Văn T thấy rằng: Diê ̣n tich 196,1m2mà ông

́ cho rằng có nguồn gốc của cha me ̣ để la ̣i cho ông sử dụng từ năm 1982, được nhà nước giao đất, giao rừng thuộc tiểu khu 293 khoảnh 4 lô 92 (15b) vào năm 1999, năm 2004 nhà nước đo đa ̣c lại đa tách thành hai thửa, một là thửa gầñ mương thoát nước, hai là thửa dưới chân bãi của ông. Năm 2008, gia đinh ông

̀ khai thác mô ̣t số cây gỗ ta ̣p để trồng keo , năm 2014 ông khai thác keo , năm 2015 khi chuẩn bi ̣ trồng keo vu ̣ mớ i thi ông H cho rằng đất của ông H nên xảy

̀

ra tranh chấp; còn ông Lưu Văn H cho rằng diê ̣n tich 196,1m2có nguồn gốc do

́ ông khai phá từ năm 1973, quá trình sử dụng không ai tranh chấp hay có ý kiến gì, năm 2013 ông đuợc Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất mang tên Lưu Văn H thử a đất số 42 tờ bản đồ số 18 tổng diê ̣n tich 753m2;

́

[3] Qua đo đa ̣c thực tế cũng như bản đồ địa chính , sổ thống kê diện tích đất và tài liệu về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử du ̣ng đất thể hiê ̣n: Thử a đất số 42 tờ bản đồ số 48 có nguồn gốc là do ông H khai phá ,sử du ̣ng từ năm 1986; năm 2013 ông H có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 42, tờ bản đồ 18, diện tích 753m2, đi ̣a chỉ thửa đất tại xóm DC, xã PL, huyện PL1; trình tự thủ tục do UBND xa Phủ Lý thự̃

c hiê ̣n để trinh hồ sơ xin cấp đất

̀ cho các hô ̣ gia đinh, trong đó có hô ̣ ông H đa đượ̃

c thực hiê ̣n đúngtheo quy đi ̣nh

̀ của pháp luậ t, cụ thể: Ông H có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND xa Phủ Lý đã

tiến hã

̀nh lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, lâ ̣p hồ sơ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông H và niêm yết công khai tại Trụ sở UBND xã và Nhà văn hóa xóm NB trong thờ i ha ̣n 15 ngày. Trong thờ i ha ̣n niêm yết công khai hồ sơ , UBND xã không nhâ ̣n được bất cứ nô ̣i dung khiếu na ̣i , tố cáo hay thắc mắc của hô ̣ gia đinh, cá nhân khác liên quan đến thử a đất số 42 tờ bản đồ 18 do ông Lưu Văn H ̀ xin cấp quyền sử du ̣ng đ ất. Gia đinh ông Mạc Văn T (bị đơn) là người cùng cư

̀

trú trong một xóm với ông H thời điểmđó cũng được UBND xa Phủ Lý làm thủ̃ tục cấp nhiều thửa đất, biết viê ̣c hồ sơ xin cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất được niêm yết công khai, thử a đất số 42 tờ bản đồ 18 ông H xin cấp có vi ̣ tri

́ giáp ranh với những thửa đất của gia đình ông T, bản thân ông T không có ý kiến gì. Ông T cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc là do cha mẹ để lại , được nhà nước giao đất giao rừng cho ông thuộc tiểu khu 293 khoảnh 4 lô 92 (15b) vào năm 1999, đối chiếu với bản đồ địa chính đo đạc năm 2004 được UBND xã Phú Lý cung cấp là thửa 13, tờ bản đồ địa chính số 18 diện tích 45.625m2 đã được ông T kê khai cấp đổi vào năm 2013. Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm, ông T không đưa ra được bất cứ tài liê ̣u , chứ ng cứ nào chứ ng minh diện tích đất đang tranh chấp với ông H là của ông do cha mẹ để lại, cũng như không có chứng cứ nào khẳng định việc cấp giấy chứng nhận thửa 42 tờ bản đồ số 18 có sự nhầm lẫn, không minh ba ̣ch trong quá trinh

̀ cấp đất. Ông T và bà K đều thừa nhận diện tích đang có tranh chấp ông bà chưa kê khai và cũng không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đinh ông bà. ̀

[4] Như vâ ̣y, tổng hợp các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cũng như quá trình thu thập tài liệu của Tòa án đã có đủ căn cứ khẳng đi ̣nh diê ̣n tich 196,1m2đất mà hai bên đang tranh chấp là của ông Lưu Văn H, cấp sơ

́ thẩm chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông H buộc ông Mạc Văn T và bà Lưu Thị K phải thu hoạch toàn bộ số cây keo đã trồng trên phần đất tranh chấp và trả lại diện tích đất tại thửa đất số 42 tờ bản đồ số 18 bản đồ địa chính xã PL cho ông Lưu Văn H là có căn cứ.

[5] Về diê ̣n tich đất là lối đi 25,2m2: Tại biên bản xác minh thực địa ngày

́ 04/4/2019, biên bản làm viê ̣c ngà y 04/9/2019của UBND xa Phủ Lý và biên bảñ thẩm định tại chỗ ngày 03/9/2020 thể hiện phần lối đi tranh chấp có diê ̣n tich là

́ 25,2m2, hiện trạng có lối đi, tuy nhiên không được thể hiê ̣n trong bất kỳ loa ̣i bản đồ nào của xã PL mà có vị trí nằm hoàn toàn trong thửa đất số 42 tờ bản đồ số 18 thuô ̣c quyền sử du ̣ng hợp pháp của ông Lưu Văn H. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông H buô ̣c ông Mạc Văn T và bà Lưu Thi ̣ K dỡ bỏ hàng rào chắn và thu hoa ̣ch số cây keo ta ̣i phần đất lối đ i và trả la ̣i diê ̣n tích 25,2m2 nằm trong thử a đất số 42 tờ bản đồ số 18 của ông Lưu Văn H là có căn cứ . Ông Mạc Văn T kháng cáo nhưng không đưa ra được căn cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình, do vậy không chấp nhận kháng cáo củaông Mạc Văn T.

[6] Xét kháng cáo củaông Lưu Văn H đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết giao số cây keo trên phần đất tranh chấp cho UBND xa Phủ Lý hoặc nhâñ dân xóm NB , xã PL thu hoạch bán lấy tiềnđưa vào công quỹ, là không có căn cứ vì số cây keo trên diện tích đất trên do ông Mạc Văn T trồng, cấp sơ thẩm buộcông T bà K thu hoạch toàn bộ số cây keo trên diện tích đất tranh chấp và diện tích đất lối đi thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ 18 là phù hợp đúng quy định của pháp luật, do vậy không chấp nhận kháng cáo của ông Lưu Văn H.

[7] Tại phiên tòa phúc thẩm đa ̣i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thu ̣ lý vụán đến trước khi nghị án đa thự̃

c hiệnđúng các quy đi ̣nh của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đa ̣i diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lưu Văn H và kháng cáo của ông Mạc Văn T, tuy nhiên sửa bản án sơ thẩm về vị trí, diện tích cho đúng với kết quả thẩm định, đo đạc tại cấp phúc thẩm là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 148, 156; 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, 245, Điều 254 của Bộ luật dân sự; Điều 135, 166, 170 và Điều 203 Luật đấtđai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lưu Văn H và ông Mạc Văn T . Sửa một phần bản dân sự sơ thẩm số 08/2020/DS-ST ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên về vị trí và diện tích đất tranh chấp.

1. Chấp nhận mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Lưu Văn H về đòi quyền sử dụng đất và lố iđi đối với ông Mạc Văn T và bà Lưu Thi ̣ K.

- Buô ̣c ông Mạc Văn T và bà Lưu Thi ̣ K phải thu hoạch toàn bộ số cây keo đa trỗ ̀ng trên phần đất đa lẫ ́n chiếm và trả la ̣i diê ̣n tich

196,1m2tại vị trí các

́ điểm BEFRSHLMNCB của thử a đất số 42 tờ bản đồ số 18 bản đồ địa chính xã PL cho ông Lưu Văn H.

- Buô ̣c ông Mạc Văn T và bà Lưu Thi ̣ K dỡ bỏ hàng rào chắn và thu hoa ̣ch số cây keo ta ̣i phần đất lối đi và trả la ̣i diê ̣n tich

25,2m2 tại vị trí các điểm

́

ABCDA nằm trong thử a đất số 42 tờ bản đồ số 18 của ông Lưu Văn H.

(Theo bản trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp kèm theo bản án).

2. Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện về: Bồi thường thiê ̣t hại do nghỉ việc để đi khởi kiê ̣n; Bồi thường do danh dự uy tín bị tổn hại; Bồi thường 31 (ba mươi mốt) lá đơn tương ứng với 31 ngày công lao động phổ thông của ông Lưu Văn H.

3. Về chi phí đo đất, thẩm định tại chỗ: Ông Mạc Văn T phải chịu chi phí đo đất, xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Xác nhận ông T đã nộp đủ và đã được quyết toán xong.

4. Về án phi: Miễn án phi dân sự sơ thẩm và án phidân sự phúc thẩm cho ông

́

́

́ Lưu Văn H do hộ nghèo.

Ông Mạc Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004060 ngày 16/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Trườ ng hợp bản án được thi hành theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều2 Luâ ̣t Thi hành án dân sự thi ngườ i được thi hành án dân sự , ngườ i phải thi hành án dân sự, ngườ i

̀ có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận th i hành án, quyền yêu cầu thi hành án , tự nguyê ̣n thi hành án hoă ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án theo quy đi ̣nh tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luâ ̣t Thi hành án dân sự , thờ i hiê ̣u thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luâ ̣t Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ