- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Đ (tên gọi khác: C) "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2019/HSST Ngày 29 - 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Diệu
- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Công Bằng và bà Nguyễn Thị Hải.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Anh Đ, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Lương Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Nhà văn hóa thôn N, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2019/HSST ngày 14/10/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2019/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo: Nguyễn Duy Đ (tên gọi khác: C), sinh ngày 24/9/1990 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn 8, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: lớp 9/12; không nghề nghiệp; con ông Nguyễn Như L (đã chết) và bà Dương Thị C; có 04 tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2011/HSST ngày 29/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2012; Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2012/HSST ngày 14/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/11/2013; Bản án hình sự phúc thẩm số: 105/2014/HSPT ngày 17/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2015; Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2015/HSST ngày 26/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù 17/02/2018; tiền sự: không. Bị cáo Nguyễn Duy Đ bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bố Trạch từ ngày 11/7/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Đinh Văn H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 8, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Ông Dương Minh P, sinh năm 1961; nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
+ Ông Hồ Cao Cường, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn 7A, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Châu Thanh B, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn 8, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
+ Ông Lê Thành Công, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố 01, phường B, thành phố Đ,, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 05/2019 đến tháng 06/2019 Nguyễn Duy Đ, đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Bố Trạch, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 09/5/2019, Nguyễn Duy Đ phát hiện xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, màu sơn đỏ đen, BKS 73N1-7403 của anh Châu Thanh B (cho anh Đinh Văn H mượn làm phương tiện đi lại rồi dựng trước quán kinh doanh nhôm kính H ở thôn 8, xã Đ, huyện B) không có ai trông giữ liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đ vào nhà của mình lấy chìa khoá tủ ra mở khoá điện rồi điều khiển mô tô trên vào thành phố Đ tìm nơi tiêu thụ thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát quản lý hành chính Công an tỉnh Quảng Bình lập biên bản và thu giữ xe mô tô.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bố Trạch xác định: Xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, màu sơn đỏ đen, BKS 73N1-7403 trị giá 1.800.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/6/2019, Nguyễn Duy Đ đi bộ đến nhà ông Dương Minh P và bà Nguyễn Thị L ở thôn T, xã P, huyện B để trộm cắp tài sản. Khi Đ lẻn vào phòng ngủ thì gặp bà L thức dậy hỏi: “Đi mô đó”, Đ trả lời: “Cháu bạn anh C tìm gặp anh C”. Bà L bảo Đ ra phòng khách cùng ngồi uống nước, được một lúc thì bà L đi vệ sinh, thấy vậy Đ lẻn vào phòng nơi ông P đang ngủ lấy trộm 02 điện thoại di động gồm 01 cái hiệu Iphone 6S màu trắng của bà L và 01 cái hiệu Iphone 5 màu trắng của ông P để trên đầu giường, rồi đưa Iphone 5 đến bán cho Lê Thành C ở Tổ dân phố 01, phường B, thành phố Đ lấy 100.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bố Trạch xác định: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S trị giá 9.750.000 đồng và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 trị giá 1.200.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Duy Đ chiếm đoạt của ông P và bà L là 10.950.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra làm rõ, ngày 04/6/2019 Nguyễn Duy Đ lấy trộm 01 két nước làm mát hiệu MTZ80, màu đồng đã bị hư hỏng của anh Hồ Cao C, SN 1978, ở thôn 7A, xã Đ, huyện B đưa vào TP. Đ bán lấy 500.000 đồng tiêu xài cá nhân nhưng do Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện B không đủ cơ sở để định giá nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSHBT ngày 14 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ từ 30 đến 36 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong nên không phải xem xét thêm.
Bị cáo nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt những người bị hại Đinh Văn H, Dương Minh P, Nguyễn Thị L, Hồ Cao C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Lê Thành C. Tuy nhiên, xét thấy sự vắng mặt của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nói trên không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án, vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng này.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Duy Đ khai nhận, do cần tiền phục vụ cho mục đích tiêu xài cá nhân, ngày 09/5/2019, Nguyễn Duy Đ đã lén lút lấy trộm tài sản của anh Châu Thanh B 01 xe mô tô SYM Angel BKS 73N1-7403 và ngày 25/6/2019 đột nhập vào nhà ông Dương Minh P lấy trộm 02 điện thoại di động gồm 01 cái nhãn hiệu Iphone 6S và cái nhãn hiệu Iphone 5.
Tổng trị giá tào sản mà Nguyễn Duy Đ đã chiếm đoạt của những bị hại nói trên theo định giá của cơ quan chuyên môn là 12.750.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định bị cáo Nguyễn Duy Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, Nguyễn Duy Đ đã 04 lần bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình kết án về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát và lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vừa xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây khó khăn đến đời sống, sinh hoạt của các bị hại trong vụ án, vừa gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội trên địa bàn. Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi, tuy nhiên, do lười lao động, thích hưởng thụ từ công sức, thành quả lao động của người khác nên đã phạm tội để nhằm phục vụ cho mục đích tiêu xài của mình.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Duy Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân, bị cáo Nguyễn Duy Đ có quá trình nhân thân xấu, đã 04 lần bị xét xử và kết án tù nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù không chịu cải tà quy chính, làm ăn lương thiện mà lại liên tiếp phạm tội mới. Điều này chứng tỏ bị cáo là đối tượng có ý thức coi thường pháp luật ở mức độ cao.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nghĩ cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm bồi thường vật chất: Các vật chứng đã thu giữ gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel BKS 73N1-7403; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 đều đã được Cơ quan điều tra trả lại cho các bị hại; bị cáo cũng đã hoàn trả số tiền 100.000 đồng cho anh Lê Thành Công do anh Công mua nhầm điện thoại Iphone 5 mà bị cáo lấy trộm của bà Nguyễn Thị L. Phía những bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì thêm nên không phải xem xét thêm.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Đ (tên gọi khác: C) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Phạt bị cáo Nguyễn Duy Đ (tên gọi khác: C) 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giam là ngày 11/7/2019.
Tuyên bố tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Duy Đ (tên gọi khác: C) với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét thêm.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy Đ (tên gọi khác: C) phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm,bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt) hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án (đối với người vắng mặt).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - CA huyện B; - VKSND huyện B; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - UBND xã Đ; - Chi cục THADS huyện B; - Bị cáo và người tham gia tố tung khác; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Xuân Diệu |