- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 249, Điểm a, c khoản 1 Điều 250; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2019/HS-ST Ngày: 11/9/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hồ Ngọc Hỷ.
2/ Ông Huỳnh Văn Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phƣơng - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Trần Bửu Thanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 489/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Lê Quang Nh, sinh ngày 10/10/1980 tại Sóc Trăng.
Nơi thường trú: Số 105/27, đường Trần Quang Diệu, khu vực 1, phường AT, quậ n BT, thành phố CT; Nơi tạm trú: Phòng 307 nhà nghỉ MP, số 71C đường Lê Hồng Phong, phường TA, quận BT, thành phố CT; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Quang Th, sinh năm 1952 (chết) và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1957 (sống); Anh em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1985;
Tiền án: 01 lần. Ngày 09/01/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành án tại Trại giam Kênh 7 Tổng cục VIII, chấp hành án xong vào ngày 02/8/2018;
Tiền sự: 01 lần. Ngày 22/01/2019 bị Ủy ban nhân dân phường AT, quận BT, thành phố CT quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 22/01/2019 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an quận BT, thành phố CT.
2/ Họ và tên: Lê Kim H, sinh ngày 31/12/1984 tại CT.
Nơi thường trú: Số 126/35, đường Trần Quang Diệu, khu vực 4, phường AT, quậ n BT, thành phố CT; Nơi tạm trú: Phòng 307 nhà nghỉ MP, số 71C đường Lê Hồng Phong, phường Trà An, quận BT, thành phố CT; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Trung N, sinh năm 1964 (chết) và bà Trương Thị Kim D, sinh năm 1963 (sống); Chồng: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1978 (đã ly hôn); Con ruột có 01 người, sinh năm 2003;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an quận BT, thành phố CT.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Quang V, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số 105/27, đường Trần Quang Diệu, khu vực 1, phường AT, quận BT, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Hồ Thanh Ph, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp Lung Rong, xã Định Thành A, huyện ĐH, tỉnh BL.
Các bị cáo và các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 02/5/2019 lực lượng chức năng Công an quận BT, thành phố CT phát hiện bắt quả tang Lê Quang Nh, Lê Kim H có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy tại trước hẻm 292 đường Cách Mạng Tháng Tám, khu vực 4, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận BT, thành phố CT. Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: 01 gói nilon không màu hàn kín được quấn băng keo đen bên ngoài, bên trong có chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1805 gam (nghi ma túy); 01 gói nilon không màu không hàn kín miệng, bên trong gói nilon có chứa 03 gói nilon không màu được hàn kín, bên trong cả 03 gói nilon đều có chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 0,4869 gam (nghi ma túy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, IMEI: 013183005503197, model: A1387 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0783749603; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại hiệu MOVADO (đã qua sử dụng); tiền Việt Nam: 2.150.000 đồng; 01 bóp da màu nâu hiệu KAPPA (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu WIKO màu xám đen, IMEI1: 355902082848027 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0898549215; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng, IMEI1: 869125024980752 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0939269428; 01 xe mô tô biển kiểm soát 94C1 - 011.73, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe SKYDRIVE màu đen, số khung: RLSCF4LCOBO109354, số máy: F4D2-109353 (đã qua sử dụng). Tiếp tục khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Quang Nh và Lê Kim H tại phòng 307 nhà nghỉ MP tại số 71C đường Lê Hồng Phong, phường Trà An, quận BT, thành phố CT lực lượng chức năng thu giữ, tạm giữ thêm các vật chứng sau: 01 gói nilon có viền nẹp kín một đầu, bên trong có chứa tinh thể không màu có khối lượng 4,1828 gam (nghi ma túy) để trong bao da màu đen thu giữ trong cặp hiệu DIPLOMAR; 01 bình hút ma túy tự chế bằng nhựa; 01 chai gas hiệu MAX (đã qua sử dụng) có gắn đầu khò lửa; 01 cái cặp bằng vải màu nâu hiệu DIPLOMAR (đã qua sử dụng); 02 cây kéo bằng kim loại; 01 quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 cân tiểu ly màu đen (đã qua sử dụng); 02 ống thủy tinh trong suốt; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ được cắt nhọn một đầu và 01 giấy phép lái xe hạng A1 bằng nhựa có số 960141015690 mang tên Hồ Thanh Ph do Sở giao thông và vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/11/2014 (do bà Trần Thị L quản lý nhà nghỉ MP cung cấp).
Quá trình điều tra Lê Quang Nh, Lê Kim H đều khai nhận cả hai cùng nghiện ma túy đá, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/5/2019 Nh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94C1-011.73 chở H ngồi phía sau đi từ nhà nghỉ MP tại số 71C đường Lê Hồng Phong, phường Trà An, quận BT, thành phố CT về nhà của H chơi. Trên đường đi Nh có đưa cho H giữ 01 gói ma túy được quấn trong miếng băng keo màu đen, còn Nh thì cầm trong lòng bàn tay trái 01 gói nilon không màu không hàn kín miệng, bên trong có 03 gói ma túy. Khi đến hẻm 292 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận BT thì Nh chở H vào trong hẻm mua thức ăn, sau đó quay ra đầu hẻm 292 đường Cách Mạng Tháng Tám thì bị lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe kiểm tra, lúc này Nh và H sợ bị phát hiện nên cả hai đã ném số ma túy đang cầm trên tay xuống mặt đường thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang cùng tang vật. Trong quá trình làm việc, Nh khai nhận còn cất giấu ma túy tại phòng 307 nhà nghỉ MP nên lực lượng chức năng đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng 307 nhà nghỉ MP và thu giữ thêm số ma túy còn lại cùng một số vật chứng khác (số ma túy này Nh cất giấu để cùng H sử dụng dần). Tất cả số ma túy mà lực lượng chức năng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét đều là của Nh mua của một người thanh niên tên T (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 02 lần với tổng số tiền là 2.500.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng dần, việc Nh cất giấu số ma túy này thì H hoàn toàn không biết và H chỉ biết được 01 gói ma túy mà Nh đưa cho H cất giữ.
Tại Kết luận giám định số 296/KL-PC09 ngày 09/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố CT kết luận:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong gói nilon (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1805 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể không màu trong 03 gói nilon (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,4869 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 3: Tinh thể không màu trong 01 gói nilon (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, khối lượng 4,1828 gam, loại Methamphetamine.
Các mẫu vật được niêm phong có chữ ký ghi tên Lê Quang Nh, Lê Kim H.
Người thanh niên tên T bán ma túy cho Nh do chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận BT sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.
Xe mô tô biển kiểm soát 94C1 - 011.73, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe SKYDRIVE màu đen là do chị Hồ Thị Thu H đăng ký tên chủ xe nhưng đã bán lại cho anh Lê Quang V (anh ruột của Nh) quản lý và sử dụng. Trước đó anh V có cho Lê Quang Nh mượn xe mô tô này để làm phương tiện đi lại, việc Nh sử dụng xe này để đi mua và vận chuyển trái phép ma túy thì anh V không biết.
Tại Cáo trạng số 74/CT.VKSBT ngày 21/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận BT, thành phố CT đã truy tố bị cáo Lê Quang Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 và tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Lê Kim H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo Lê Quang Nh khai nhận, vì nghiện ma túy nên bị cáo đã tàng trữ và vận chuyển ma túy để sử dụng, bị cáo H khai nhận bị cáo thỉnh thoảng có sử dụng ma túy, khi Nh đưa ma túy cho bị cáo giữ bị cáo đồng ý giữ để cùng sử dụng đang trên đường vận chuyển thì bị bắt cùng tang vật. Các bị cáo nhận biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật. Các bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố CT vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo Nh và H là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Vì vậy, cần được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nh, H có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 249 BLHS tuyên bị cáo Nh từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù giam; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015 tuyên bị cáo Nh từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bị cáo Nh theo Điều 55 Bộ luật hình sự.
Áp dụng: Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 250 BLHS tuyên bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 03 gói niêm phong số 296G1, 296G2, 296G3/KL-PC09 ngày 09/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố CT.
Trả cho bị cáo Nh: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, IMEI: 013183005503197, model: A1387 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0783749603; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại hiệu MOVADO (đã qua sử dụng); tiền Việt Nam: 2.150.000 đồng; 01 bóp da màu nâu hiệu KAPPA (đã qua sử dụng).
Trả cho bị cáo H: 01 điện thoại di động hiệu WIKO màu xám đen, IMEI1: 355902082848027 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0898549215; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng, IMEI1: 869125024980752 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0939269428;
Trả cho ông Lê Quang V: 01 xe mô tô biển kiểm soát 94C1 - 011.73, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe SKYDRIVE màu đen, số khung: RLSCF4LCOBO109354, số máy: F4D2-109353 (đã qua sử dụng).
Trả cho ông Hồ Thanh Ph: 01 giấy phép lái xe hạng A1 bằng nhựa có số 960141015690 do Sở giao thông và vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/11/2014.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bình hút ma túy tự chế bằng nhựa; 01 chai gas hiệu MAX (đã qua sử dụng) có gắn đầu khò lửa; 01 cái cặp bằng vải màu nâu hiệu DIPLOMAR (đã qua sử dụng); 02 cây kéo bằng kim loại; 01 quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 cân tiểu ly màu đen (đã qua sử dụng); 02 ống thủy tinh trong suốt; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ được cắt nhọn một đầu.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận BT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận BT, thành phố CT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nh, H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo Nh, H tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 02/5/2019 Công an quận BT, thành phố CT phát hiện bắt quả tang Lê Quang Nh, Lê Kim H có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy tại trước hẻm 292 đường Cách Mạng Tháng Tám, khu vực 4, phường Bùi Hữu Nghĩa, quận BT, thành phố CT. Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: 01 gói nilon không màu hàn kín, bên trong có chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1805 gam (nghi ma túy); 01 gói nilon không màu không hàn kín miệng, bên trong gói nilon có chứa 03 gói nilon không màu được hàn kín, bên trong cả 03 gói nilon đều có chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 0,4869 gam. Thu giữ tại nơi ở của Nh và H 01 gói nilon có viền nẹp kín một đầu, bên trong có chứa tinh thể không màu có khối lượng 4,1828 gam (nghi ma túy).
Theo Kết luận giám định số 296/KL-PC09 ngày 09/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố CT kết luận: Tinh thể không màu được niêm phong có chữ ký ghi tên Lê Quang Nh, Lê Kim H trong gói nilon (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1805 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể không màu trong 03 gói nilon (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,4869 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể không màu trong 01 gói nilon (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, khối lượng 4,1828 gam, loại Methamphetamine.
Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Lê Quang Nh, Lê Kim H đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Nhà nước nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân trồng, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý. Bản thân bị cáo Nh, H nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, nhưng vì nghiện ma túy bị cáo Nh đã tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy để sử dụng, bị cáo H tiếp tay với bị cáo Nh vận chuyển trái phép chất ma túy. Đối với bị cáo Nh đã có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy bị cáo chấp xong hành hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận BT, thành phố CT truy tố bị cáo Nh tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 và điểm a, c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Lê Kim H tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người đúng tội.
Bản thân bị cáo Nh và bị cáo H là người trẻ khỏe, lẽ ra các bị cáo phải biết tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Nh đã từng có tiền án về ma túy nên bị cáo biết rất rõ hành vi tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nh cũng biết được tác hại của ma túy, bị cáo đã được giáo dục và cai nghiện nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, khi ra tù được một thời gian bị cáo Nh lại tiếp tục phạm tội. Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định để tự nuôi sống bản thân mình, nay bị cáo lại phạm tội sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Thiết nghĩ cần có một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo H, bản thân bị cáo là phụ nữ nhưng bị cáo không tu dưỡng rèn luyện bản thân để chăm lo cho con mà bị cáo lại đi vào con đường sử dụng ma túy, bị cáo biết rõ bị cáo Nh sử dụng ma túy nhưng bị cáo cùng sử dụng và tiếp tay cho bị cáo Nh vận chuyển trái phép chất ma túy. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nh và bị cáo H đều có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy hai bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ của hai bị cáo khi lượng hình.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy ma túy, các vật dụng sử dụng để sử dụng ma túy.
- Đối với điện thoại, tiền, bóp da, xe môtô, giấy phép lái xe không liên quan đến vụ án nên trả cho các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
*Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 249, Điểm a, c khoản 1 Điều 250; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Quang Nh 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bị cáo Nh là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2019.
*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 250; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Kim H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Kim H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nh và bị cáo H.
Về xử lý vật chứng:
*Áp dụng: Điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 03 gói niêm phong số 296G1, 296G2, 296G3/KL-PC09 ngày 09/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố CT bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1:0,1265 gam, M2: 0,4499 gam, M3: 3,7941 gam đựng trong 03 gói nilon nẹp miệng và vỏ bao mở gói niêm phong.
Trả cho bị cáo Nh: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng, IMEI: 013183005503197, model: A1387 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0783749603; 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại hiệu MOVADO (đã qua sử dụng); tiền Việt Nam: 2.150.000 đồng; 01 bóp da màu nâu hiệu KAPPA (đã qua sử dụng).
Trả cho bị cáo H: 01 điện thoại di động hiệu WIKO màu xám đen, IMEI1: 355902082848027 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0898549215; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng, IMEI1: 869125024980752 (đã qua sử dụng), bị nứt màn hình, bên trong có sim số 0939269428;
Trả cho ông Lê Quang V: 01 xe mô tô biển kiểm soát 94C1 - 011.73, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe SKYDRIVE màu đen, số khung: RLSCF4LCOBO109354, số máy: F4D2-109353 (đã qua sử dụng).
Trả cho ông Hồ Thanh Ph: 01 giấy phép lái xe hạng A1 bằng nhựa có số 960141015690 do Sở giao thông và vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 21/11/2014.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bình hút ma túy tự chế bằng nhựa; 01 chai gas hiệu MAX (đã qua sử dụng) có gắn đầu khò lửa; 01 cái cặp bằng vải màu nâu hiệu DIPLOMAR (đã qua sử dụng); 02 cây kéo bằng kim loại; 01 quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 cân tiểu ly màu đen (đã qua sử dụng); 02 ống thủy tinh trong suốt; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ được cắt nhọn một đầu.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Quang Nh, Lê Kim H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố CT xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| - TAND TP. CT; - VKSND Q. BT; - VKSND TP. CT; - Thi hành án DS Q. BT; - Sở Tư pháp TP.CT; - Nhà tạm giữ - CA Q. BT; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà |