vanban.org

Bản án 74/2019/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng Th. Bà Nguyễn Thị Hồng Th được ly hôn ông Bùi Quang S. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Hồng Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Ngọc S1, sinh ngày 27/12/2015. Ông S được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 74/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2019
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thái Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Chơn

2. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 269/2019/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2019, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 285/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Hồng Th, S năm 1990; (có mặt)

Địa chỉ: KP5, phường LĐ, tp Phan Thiết, Bình Thuận.

2. Bị đơn: ông Bùi Quang S, S năm 1983 (vắng mặt);

Địa chỉ: kp2, phường PT, tp Phan Thiết, Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng Th trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hồng Th và ông Bùi Quang S tự tìm hiểu và tự tổ chức cưới vào đầu năm 2015, đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường Lạc Đạo, Phan Thiết, Bình Thuận.

Quá trình chung sống với nhau đến tháng 8/2017 thì thường xuyên cải vả, xãy ra nhiều mâu thuẩn, không có tiếng nói chung. Do vi phạm pháp luật nên ông S bị Tòa án xử phạt tù, từ khi ông S ra tù thì hai bên không còn sống với nhau, cuộc sống vợ chồng không còn. Nay bà Th thấy tình cảm vợ chồng không còn, đã không còn ở với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà làm đơn yêu cầu ly hôn ông S.

Về con chung: bà Th và ông S có con chung là Bùi Thị Ngọc S1, sinh ngày 27/12/2015, hiện bà Th đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà Th yêu cầu được nuôi cháu S1, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th khai không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn là ông Bùi Quang S có hộ khẩu và nơi ở tại kp2, phường PT, tp Phan Thiết, Bình Thuận. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không thực hiện được vì ông S thường xuyên đi vắng. Tòa án đã niêm yết đầy đủ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo luật định. Ông S không đến Tòa làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và HĐXX là đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đề nghị chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ly hôn và giao con chung cho nguyên đơn nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Yêu cầu ly hôn, nuôi con của bà Nguyễn Thị Hồng Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Bùi Quang S đã được Tòa án niêm yết giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác theo luật định để làm việc và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của bà Th, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Th và ông S quá trình chung sống với nhau thường xuyên cải vả, xãy ra nhiều mâu thuẩn, không có tiếng nói chung, không thể chung sống với nhau được. Hai người đã ly thân nhưng vẫn không hàn gắn và không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông S lên làm việc và hòa giải nhưng ông S vắng mặt. Điều đó cho thấy tình cảm quan hệ vợ chồng giữa bà Th và ông S đã không còn, ông S không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, không còn sống chung, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th.

Về con chung: Xét yêu cầu giải quyết việc nuôi con của bà Th, bà Th yêu cầu được nuôi con chung là cháu Bùi Thị Ngọc S1, sinh ngày 27/12/2015, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà Th đang nuôi cháu S1, quá trình giải quyết vụ án ông S không đến Tòa, không có ý kiến về việc nuôi con. Do đó HĐXX chấp nhận giao con chung cho bà Th nuôi. Bà Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th và ông S không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.

Về án phí: bà Th là nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng Th. Bà Nguyễn Thị Hồng Th được ly hôn ông Bùi Quang S.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Hồng Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Ngọc S1, sinh ngày 27/12/2015. Ông S được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về án phí: bà Nguyễn Thị Hồng Th phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Bà Th đã nộp đủ tiền án phí theo biên lai thu tạm ứng số 0027487 ngày 08/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Trường hợp bản án có hiệu lực được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/9/2019). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ