vanban.org

Bản án 74/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Hoàng Minh H.

1. Buộc ông Hoàng Minh H phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị T 50% giá trị thửa đất số 1469, tờ bản đồ số 6 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B là 812.250.000 (tám trăm mƣời hai triệu hai trăm năm mƣơi nghìn) đồng. Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Hoàng Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 74/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-7-2019
V/v tranh chấp chia tài sản của
nam nữ chung sống với nhau
nhƣ vợ chồng mà không đăng ký
kết hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Ông Lê Phú Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Bƣơng.

- Đại diê ̣n Viê ̣n Kiểm sá t nhân dân thi ̣ xã Di An , tỉnh Bình Dương tham

̃ gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1294/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau nhƣ vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; thƣờng trú: Số 521/20/4 đƣờng D, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T: Bà Lê Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ: Phòng 316, khu nội trú sinh viên, số 316, đƣờng P, khu phố 5, phƣờng H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 07/12/2018). Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Minh H, sinh năm 1979; thƣờng trú: Số 521/20/4 đƣờng D, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B; địa chỉ liên hệ: Số 42/1/22 đƣờng số 13, khu phố 4, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Q; địa chỉ: Tầng 1,2 Tòa nhà S – 111A P, phƣờng B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

3.2. Văn phòng công chứng T; địa chỉ: Đƣờng T, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.3. Văn phòng công chứng D; địa chỉ: 108 đƣờng số 9, Trung tâm hành chính thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.4. Ông Hoàng Minh H và bà Hồ Thị Ngọc A; thƣờng trú: Tổ 3, thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: Tổ 1, khu phố K, phƣờng T, thị xã T, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

4. Người làm chứng:

4.1. Ông Phan Thế H, sinh năm 1982; địa chỉ: 462/16 đƣờng N, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

4.2. Bà Cao Ngọc N, sinh năm 1984; địa chỉ: 3/29/1 đƣờng A, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2018, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho bà Lê Thị H trình bày:

Trƣớc đây, bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Minh H là vợ chồng. Đến ngày 26/8/2014, bà T và ông H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đƣơng sự số 286/2014/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau khi ly hôn bà T và ông H vẫn chung sống với nhau nhƣ vợ chồng. Trong khoảng thời gian sống chung sau ly hôn, bà T và ông H có sinh thêm 01 con chung và tạo lập đƣợc khối tài sản chung gồm 05 mảnh đất. Đến tháng 9/2018 do không thể tiếp tục chung sống nên ông H và bà T có thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung để mỗi ngƣời ra ở riêng. Theo đó, ông H và bà T đã chuyển nhƣợng 04 mảnh đất để trả nợ, phần còn lại hai ngƣời chia đôi. Còn lại một mảnh đất tại thửa đất số 1469, tờ bản đồ số 6 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền ở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL569891 do Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 01/3/2018. Mảnh đất này do chƣa đƣợc giá nên ông H chƣa bán để chia.

Theo văn bản ngày 06/9/2018, ông H đồng ý chia cho bà T một nửa mảnh đất trên và sẽ tiến hành thủ tục sang nhƣợng. Tuy nhiên, sau nhiều lần bà T yêu cầu nhƣng ông H vẫn không thực hiện. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia cho bà T ½ diện tích đất trên. Do hiện nay ông H đã chuyển nhƣợng thửa đất cho ông Hoàng Minh H1 và ông H1 đã thế chấp cho Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Q – chi nhánh B (Ngân hàng) để vay tiền nên bà T chỉ yêu cầu ông H thanh toán lại cho bà 1/2 giá trị thửa đất theo giá Hội đồng định giá đã định. Đối với hợp đồng chuyển nhƣợng giữa ông H với ông H1 và hợp đồng thế chấp giữa ông H1 với Ngân hàng, bà T không có ý kiến gì.

- Lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Hoàng Minh H trình bày:

Ông H thống nhất với phần trình bày của bà T về việc ông và bà T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đƣơng sự số 286/2014/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ly hôn, ông và bà T vẫn sống chung với nhau nhƣ vợ chồng nhƣng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian này, ông đã mua đƣợc 06 thửa đất gồm: 01 thửa đất tọa lạc đƣờng số 9, phƣờng Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; 02 thửa đất thuộc dự án Đông Bình Dƣơng (phƣờng Tân Bình, thị xã Dĩ An); 01 thửa đất tại Long Thành, Đồng Nai; 01 thửa đất diện tích đất 59m2 tọa lạc tỉnh Bình Phƣớc do bà Tuyết đứng tên và 01 thửa đất có diện tích 90,3m2 tọa lạc khu phố Tân Hiệp, phƣờng Tân Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng mà bà T yêu cầu chia. Nguồn tiền ông H có mua các thửa đất này là nguồn tiền thu nhập từ quán bún bò O của ông và bà T và vay ngân hàng.

Đến tháng 9/2018, bà T và ông H không sống chung với nhau nữa. Tuy nhiên, do trƣớc đây cũng là vợ chồng, có con chung nên ông H mới bán bớt 03 thửa đất chia cho bà T 1.400.000.000 đồng, số tiền bán đất còn lại 1 tỷ đồng thì ông H đã trả nợ Ngân hàng và các khoản nợ khác. Đối với 03 quyền sử dụng đất thì thỏa thuận bà T đƣợc chia quyền sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 59m2 tọa lạc tỉnh Bình Phƣớc, ông H đƣợc chia quyền sử dụng phần đất có diện tích 90,3m2 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B và 01 quyền sử dụng đất thuộc dự án Đ có diện tích 80m2 ở phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.

Việc thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện, không có lập giấy tờ. Do tin tƣởng nên ông H không yêu cầu bà T khi nhận tiền, tài sản phải ghi biên bản giao nhận và hủy bỏ biên bản lập ngày ngày 06/9/2018 giữa ông H với bà T. Bà T đã nhận 1.400.000.000 đồng và phần đất ở tỉnh Bình Phƣớc. Vì vậy, ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Hiện tại, ông H và bà T không còn liên quan gì với nhau, ông cũng không yêu cầu chia phần diện tích đất 59m2 ở Bình Phƣớc mà ông đã chia cho bà T.

- Lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Minh H1 và bà Hồ Thị Ngọc A trình bày:

Ngày 22/01/2013, ông Hoàng Minh H có chuyển nhƣợng cho vợ chồng ông H1, bà A phần đất có diện tích 90,3m2, thuộc thửa đất số 1469, tờ bản đồ số 6 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Việc chuyển nhƣợng này đƣợc thực hiện tại Văn phòng công chứng D, còn giá chuyển nhƣợng cụ thể thực tế là bao nhiêu thì ông H, bà A không cung cấp cho Tòa án vì ông H1, bà A không có nghĩa vụ phải cung cấp. Hiện tại ông H1, bà A là chủ sử dụng hợp pháp của phần đất này. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhƣợng ngày 25/02/2019, ông H1, bà A đƣợc Sở tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS 14747 đối với thửa đất nêu trên. Đến ngày 08/4/2019, vợ chồng ông H1, bà A đã thế chấp thửa đất nêu trên cho Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Q để vay số tiền 500.000.000 đồng. Từ khi vay đến nay, vợ chồng ông H1, bà A đã đóng gốc, lãi đƣợc 01 kỳ với số tiền là 10.139.000 đồng.

Ông H1, bà A xác định khi mua hoàn toàn không biết đất đang tranh chấp. Đƣợc biết đất này đứng tên ông H và đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi ông H đã ly hôn với bà T. Hơn nữa, khi mua đất thì có xác nhận của chính quyền địa phƣơng là đất không tranh chấp nên ông H, bà A mới mua. Thậm chí, khi thế chấp ngân hàng xác định đất không tranh chấp nên mới thế chấp vay tiền đƣợc, phần đất 90,3m2 là phần đất hợp pháp của ông H1, bà A. Do đó, ông H1 và bà A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.

- Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng D:

Ngày 22/01/2019 Văn phòng công chứng D, tỉnh B chứng nhận hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất số công chứng 433, quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/01/2019 giữa ông Hoàng Minh H với ông Hoàng Minh H1 với nội dung ông Hoàng Minh H chuyển nhƣợng cho ông Hoàng Minh H1 thửa đất số 1469, tờ bản đồ số 6 (B2.2) tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B, giá chuyển nhƣợng là 100.000.000 đồng và thỏa thuận ông H có trách nhiệm nộp thuế, phí liên quan đến hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất, các bên tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch còn thỏa thuận việc thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, thời điểm giao tài sản, giấy tờ liên quan quyền sử dụng đất.

Trƣớc khi công chứng hợp đồng, ông H có cung cấp Đơn xin tra cứu thông tin đất đai đã đƣợc Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã D, tỉnh B xác nhận số 124, quyển số 8/CCTT ngày 22/01/2019 với nội dung: Bất động sản (thửa đất chuyển nhƣợng nêu trên) hiện nay không có đơn tranh chấp, khiếu nại tại địa phƣơng.

Tại thời điểm các bên tham gia ký kết hợp đồng ông H đã xuất trình các tài liệu, giấy tờ chứng minh về quyền tài sản giao dịch là của cá nhân gồm: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đƣơng sự số 286/2014/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 21/UBND-XNTTHN ngày 15/01/2019 của UBND phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Việc công chứng đƣợc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

- Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng T:

Ngày 08/4/2019, Văn phòng công chứng T tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bên thế chấp là ông Hoàng Minh H1, bà Hồ Thị Ngọc A với bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Q – Chi nhánh B.

Đối tƣợng của hợp đồng là quyền sử dụng đất diện tích 90,3m2 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B thuộc thửa đất số 1469, tờ bản đồ số 6 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL569891 do Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 25/02/2019 cho ông Hoàng Minh H1.

Sau tiếp nhận yêu cầu công chứng, Văn phòng công chứng T đã kiểm tra hồ sơ tài sản, hồ sơ pháp lý, giấy tờ nhân thân, nội dung hợp đồng, năng lực hành vi dân sự, tình trạng công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 004527, quyển số 11TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/4/2019.

Văn phòng công chứng T khẳng định đã thực hiện đúng quy định, trình tự, thủ tục khi công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên. Liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T thì Văn phòng công chứng T không có ý kiến, đề nghị quý Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.

- Quá trình tố tụng, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thƣơng mại Cồ phần Q đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn, các đƣơng sự khác cung cấp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ngƣời đại diện theo pháp luật của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thƣơng mại Cồ phần Q để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 14/6/2019; tham gia phiên tòa vào các ngày 10/7/2019 và 30/7/2019 nhƣng ngƣời đại diện theo pháp luật của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thƣơng mại Cồ phần Q vắng mặt không có lý do. Đồng thời, ngân hàng cũng không có ý kiến, trình bày yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2019 người làm chứng bà Cao Ngọc N trình bày:

Bà N có quen biết với bà T, ông H do là ngƣời cùng quê với chồng cũ của bà N. Khoảng tháng 3/2018, bà N và ông Lê Văn C có giới thiệu cho bà T và ông H mua lô đất trên. Ban đầu bà T đi coi đất, sau đó chồng bà T đứng ra thƣơng lƣợng với chủ đất. Sau khi thống nhất giá đất thì bà N và ông C đi cùng với chủ đất đến quán bún bò của bà T ở Dĩ An để nhận tiền cọc. Lúc đó bà N nghe thấy bà T hỏi: “đặt cọc bao nhiêu?”, ông H nói: “50 triệu đồng” và bà T lấy tiền đƣa cho ông H để đặt cọc. Do trƣớc đó bà N có nói cho ông C biết hai vợ chồng ông H, bà T đã ly dị nhƣng quay lại chung sống và sinh thêm 01 đứa con nên khi làm giấy đặt cọc ông C có nói: “hai ngƣời ly dị rồi sao hai ngƣời không đứng tên”, bà T nói: “thôi cứ để ông H đứng tên đi không sao hết”. Sau đó ra Văn phòng công chứng D công chứng hợp đồng thì thanh toán hết tiền. Khi đi công chứng hợp đồng thì chỉ có ông H đi cùng với bà N, ông C và chủ đất, ông H thanh toán hết tiền. Sau khi công chứng hợp đồng xong, bà T có cho bà N tiền môi giới.

Theo nhƣ bà N biết thì thửa đất này bà T và ông H cùng mua vì bà N là ngƣời giới thiệu cho bà T và ông H. Thời điểm mua miếng đất này vợ chồng bà T đã quay về chung sống nhƣng không có đăng ký kết hôn.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/4/2019 người làm chứng ông Phan Thế H2 trình bày:

Ông Phan Thế H2 không có quen biết gì với bà T và ông H. Vào khoảng tháng 4/2018 ông Phan Thế H2 có chuyển nhƣợng cho ông H thửa đất số 1469 tờ bản đồ số 6 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Lúc đó thông qua ông C và bà N là ngƣời môi giới đã giới thiệu cho ông Phan Thế H2 gặp ông H để thỏa thuận chuyển nhƣợng đất. Ông Phan Thế H2 có đến quán bún bò O (ở phƣờng Linh Xuân, quận Thủ Đức) gặp ông H để nhận tiền cọc. Tại đây, ông Phan Thế H2 có gặp bà T, ông Phan Thế H2 biết bà T là vợ ông H vì ông C có nói và bà T cũng có ra bàn ngồi tham gia giao dịch, trao đổi về việc chuyển nhƣợng đất. Nhƣng ông H là ngƣời đứng ra ký giấy tờ và giao tiền cọc cho ông Phan Thế H2 số tiền 50.000.000 đồng, còn tiền do ai đƣa cho ông H thì ông Phan Thế H2 không nhớ.

Khi ra công chứng chỉ có ông H đi ký hợp đồng, bà T không đi cùng. Sau khi công chứng hợp đồng thì ông H là ngƣời giao tiền cho ông Phan Thế H2. Sau đó ông Phan Thế H2 giao toàn bộ giấy tờ và bàn giao đất cho ông H. Từ đó đến nay ông Phan Thế H2 không có qua lại gì với vợ chồng ông H.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thể hiện: Diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 89,4 m2 đƣợc định giá 1.624.500.000 đồng, hiện trạng đất trống.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đƣơng sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn ông Hoàng Minh H, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Minh H1 và bà Hồ Thị Ngọc A, Văn phòng công chứng T, Văn phòng công chứng D có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Q đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt 02 lần liên tiếp nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà T và ông H trƣớc đây là vợ chồng, đến năm 2014 thì ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đƣơng sự số 286/2014/QĐ- HNGD ngày 24/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức. Theo quyết định này, ông H và bà T xác định không có tài sản chung.

Sau khi ly hôn, bà T và ông H vẫn sống chung nhƣ vợ chồng, cùng kinh doanh quán bún bò “O” và sinh thêm 01 ngƣời con chung là cháu Hoàng Nguyễn Nhƣ P. Theo giấy khai sinh, cháu P sinh ngày 13/10/2017 là con của ông Hoàng Minh H và bà Nguyễn Thị T, đƣợc ông H trực tiếp đi đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân phƣờng An Bình (nơi cƣ trú của ông H và bà T). Nhƣ vậy, kể từ sau ngày 24/8/2014 ông H và bà T chung sống với nhau nhƣ vợ chồng, nhƣng không đăng ký kết hôn nên không đƣợc công nhận là vợ chồng hợp pháp.

Quá trình chung sống từ ngày 24/8/2014 đến tháng 9/2018, theo bà T khai hai ngƣời vẫn buôn bán chung quán bún bò “O”, quán này của vợ chồng buôn bán chung từ trƣớc khi ly hôn và sau khi ly hôn vẫn tiếp tục buôn bán chung. Trong thời gian này hai ngƣời có mua thêm 05 thửa đất. Điều này cũng đƣợc ông H thừa nhận tại biên bản làm việc ngày 03/4/2019 và ngày 12/4/2019, ông H thừa nhận hai ngƣời có tạo lập đƣợc 05 miếng đất nhƣ bà T khai, nguồn tiền từ thu nhập của quán bún bò “O” và vay ngân hàng. Ngoài ra, ông H còn khai thêm 01 miếng đất ở Bình Phƣớc nhƣng bà T không thừa nhận và ông H không có chứng cứ chứng minh. Việc ông H thừa nhận hai ngƣời có tạo lập đƣợc 05 miếng đất nhƣ bà T trình bày, đây là chứng cứ không cần phải chứng minh. Hơn nữa, tại văn bản lập ngày 06/9/2018 do bà T viết có chữ ký của ông H có nội dung “trong thời gian ly hôn chúng tôi vẫn sống chung, làm của chung có 05 miếng đất....”. Điều này phù hợp với lời khai ông H và bà T nên có căn cứ xác định sau khi ly hôn ông H và và T có tạo lập đƣợc các tài sản chung là 05 thửa đất, gồm: 01 thửa đất tọa lạc đƣờng số 9, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; 02 thửa đất thuộc dự án Đông Bình Dƣơng (phƣờng T, thị xã D); 01 thửa đất tại huyện L, tỉnh Đ và 01 thửa đất có diện tích 90,3m2 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.

Ông H khai 05 thửa đất này đã phân chia xong. Tuy nhiên, căn cứ vào văn bản ngày 06/9/2018 có nội dung: “Chúng tôi tự thỏa thuận chia đều rồi nhưng anh chưa sang nhượng tên cho tôi và anh còn thiếu nợ tôi 300 triệu đồng, anh hứa lúc nào bán được đất anh trả, và anh có thời gian anh sẽ đi sang nhượng đất cho tôi...”. Nhƣ vậy, chứng tỏ thời điểm lập văn bản này, ông H chƣa thực hiện xong việc phân chia tài sản cho bà T. Ông H cho rằng sau ngày ký văn bản này ông đã thực hiện xong việc phân chia cho bà T nhƣng ông H không cung cấp đƣợc chứng cứ chứng minh, nên không có căn cứ xác định tài sản chung đã chia xong nhƣ ông H trình bày. Bà T xác định còn lại thửa đất đang tranh chấp là chƣa phân chia là có cơ sở. Tại khoản 1 Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp chủ sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung”. Do vậy, bà T khởi kiện yêu cầu ông H chia cho bà ½ giá trị thửa đất là có căn cứ chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, ông H sau khi biết bà T khởi kiện đã làm thủ tục chuyển nhƣợng phần đất tranh chấp cho em ruột ông là Hoàng Minh H1 và ông H1 đã thế chấp Ngân hàng vay tiền. Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu phân chia theo giá trị, không có yêu cầu nhận đất và không có yêu cầu gì đối với hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông H1 với ông H, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông H1 với Ngân hàng; các đƣơng sự khác cũng không có yêu cầu gì đối với các hợp đồng này nên Tòa án không xem xét.

Giá trị thửa đất tranh chấp đƣợc định giá là 1.624.500.000 đồng, đƣợc phân chia cho bà T và ông H mỗi ngƣời 50% vì không ai có chứng cứ chứng minh mình đóng góp bao nhiêu trong khối tài sản chung này nên công sức đóng góp để hình thành nên tài sản đƣợc xác định là ngang nhau. Cụ thể mỗi ngƣời đƣợc chia 812.250.000 đồng, ông H đã chuyển nhƣợng phần đất cho ông H1 nên ông H có trách nhiệm thanh toán lại cho bà T giá trị phần tài sản bà T đƣợc chia là 812.250.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đƣợc tính trên giá trị tài sản đƣợc chia theo quy định tại khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV về án phí, lệ phí Tòa án.

Chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Minh H mỗi ngƣời phải chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và phí thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do bà T đã nộp tạm ứng nên ông H có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Tuyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 219 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 92, 147, 157, 165, 228, 238 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Hoàng Minh H.

1.1. Buộc ông Hoàng Minh H phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị T 50% giá trị thửa đất số 1469, tờ bản đồ số 6 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B là 812.250.000 (tám trăm mƣời hai triệu hai trăm năm mƣơi nghìn) đồng.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

1.2. Phần tài sản của ông Hoàng Minh H đƣợc chia là ½ giá trị thửa đất số 1469, tờ bản đồ số 6 tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B (có sơ đồ kèm theo). Ông Hoàng Minh H đã chuyển nhƣợng thửa đất này cho ông Hoàng Minh H1 nên quyền lợi, nghĩa vụ giữa ông Hoàng Minh H với ông Hoàng Minh H1 do hai bên tự giải quyết, nếu có tranh chấp thì đƣợc giải quyết bằng vụ án khác.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

2.1 Bà Nguyễn Thị T phải nộp 36.367.500 (ba mƣơi sáu triệu ba trăm sáu mƣơi bảy nghìn năm trăm) đồng tiền án phí chia tài sản chung đƣợc khấu trừ 14.000.000 (mƣời bốn triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0027874 ngày 18/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, bà Nguyễn Thị T còn phải nộp 22.367.500 (hai mƣơi hai triệu ba trăm sáu mƣơi bảy nghìn năm trăm) đồng.

2.2. Ông Hoàng Minh H phải nộp 36.367.500 (ba mƣơi sáu triệu ba trăm sáu mƣơi bảy nghìn năm trăm) đồng.

3. Về chi phí tố tụng khác:

3.1. Bà Nguyễn Thị T phải chịu 4.042.000 (bốn triệu không trăm bốn mƣơi hai nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp.

3.2. Ông Hoàng Minh H phải chịu 4.042.000 (bốn triệu không trăm bốn mƣơi hai nghìn) đồng và có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị T.

4. Các đƣơng sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ tuyên án. Các đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ