vanban.org

Bản án 74/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, số tiền 1.000.000 đồng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 79/18/PNK ngày 24-01-2018 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Tịch thu, tiêu hủy 01 nón kết màu nâu có chữ adidds; 01 gạc băng màu đỏ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Trả lại; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2018/HSST
Ngày: 03-05-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Cao Kim Triều

2. Bà: Lê Thị Yến Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến Như – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, số 06 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2018/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Đình T; ngày sinh 14-9-1990 tại T H; Hộ khẩu thường trú: Thôn KS, xã HĐ, huyện HT, tỉnh TH; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình T, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị T, (Đã chết); tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 14-01-2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Nguyễn Tài T; nơi cư trú: 81B Đường số M, phường TB, quận TĐ, Thành phố H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 25 phút ngày 14-01-2018, Hoàng Đình T dùng băng keo dán 02 ngón tay trái lại giả vờ đang bị thương để vào bệnh viện Nhi Đồng 2 số 33 Nguyễn Du, phường Bến Nghé, Quận 1 xin tiền của thân nhân người bệnh. Khi đến phòng số 5, khoa hô hấp 2 của bệnh viện thì T nhìn thấy trên giường số 31 của anh Nguyễn Tài T có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xám-đen, không có người trông coi. T đi vào phòng thì thấy anh Nguyễn Đình C đang chăm sóc con ở giường số 35, Thọ đến xin anh C tiền thì anh C cho T 20.000 đồng. Khi T quay ra đi ngang giường số 31 thì T lén lút dùng tay trái lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xám-đen rồi đi ra cửa. Cùng lúc này, anh T từ bên ngoài đi vào nhìn thấy T lấy trộm điện thoại nên hỏi T sao anh lấy điện thoại của tôi. Thọ nói "điện thoại của anh hả" và liền đưa lại điện thoại cho anh T rồi bỏ chạy. Khi anh T và T nói chuyện với nhau thì anh C nghe và nhìn ra thấy T đưa chiếc điện thoại Samsung J7 màu xám-đen cho anh T rồi bỏ chạy, anh T tri hô và đuổi theo. Lúc này, có anh Dương Hoàng L đang nuôi con cấp cứu tại khoa hô hấp 2 nghe thấy liền chạy theo bắt giữ T đưa đến Công an phường Bến Nghé, Quận 1 lập biên bản phạm tội quả tang

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Hoàng Đình T đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Vật chứng:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xám - đen theo Kết luận giám định số 13/KLGĐTS ngày 18-01-2018 của Hội đồng thẩm định trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 có trị giá 2.500.000 đồng

Thu giữ của Hoàng Đình T:

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đỏ; 01 nón kết màu nâu có chữ adidds; 01 gạc băng màu đỏ; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh và 01 quần dài màu xanh đậm; Số tiền 1.000.000 đồng

Tại Cáo trạng số 66/CT-VKSNDQ1 ngày 15 tháng 3 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Hoàng Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 vẫn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hoàng Đình T về tội “ Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hoàng Đình T từ 09 tháng đến 12 tháng tù; xử lý vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, số tiền 1.000.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo; Tịch thu, tiêu hủy 01 nón kết màu nâu có chữ adidds; 01 gạc băng màu đỏ; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh và 01 quần dài màu xanh đậm, do không còn giá trị sử dụng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vào khoảng khoảng 13 giờ 25 phút ngày 14-01-2018, Hoàng Đình T có hành vi lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xám - đen trị giá 2.500.000 đồng của anh Nguyễn Tài T tại giường số 31, phòng số 5, Khoa hô hấp 2 Bệnh viện Nhi Đồng 2 số 33 Nguyễn Du, phường Bến Nghé, Quận 1. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của người bị hại và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Hoàng Đình T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo Hoàng Đình T là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra; Bị cáo biết rất rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Tài T đã nhận lại chiếc điện thoại và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, số tiền 1.000.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên xét trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 nón kết màu nâu có chữ adidds; 01 gạc băng màu đỏ; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh và 01 quần dài màu xanh đậm, do không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T 09 (Chín) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày: 14-01-2018;

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, số tiền 1.000.000 đồng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 79/18/PNK ngày 24-01-2018 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu, tiêu hủy 01 nón kết màu nâu có chữ adidds; 01 gạc băng màu đỏ; 01 áo sơ mi tay dài màu xanh và 01 quần dài màu xanh đậm theo Phiếu nhập kho vật chứng số 79/18/PNK ngày 24-01-2018 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí:

- Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

- Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ