vanban.org

Bản án 74/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 27/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt ị cáo Trần Văn V 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20 11 2017.

Xử phạt ị cáo Dương Văn L 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Giao ị cáo cho UBND xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời hạn thử thách của ản án. Trường hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V và Dương Văn L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt ị cáo Trần Văn V 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20 11 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2018/HSST
Ngày 27/03/2018

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành ph n Hội đ ng t sơ thẩm g m có:

Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Tạ Thị Hoa

Các H i th m nhân dân:

Bà Trần Thị Minh

Ông Nguyễn Thanh Dũng

- Thư ký phiên t a: Bà Vi Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 và 27 tháng 03 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, x t xử sơ th m c ng khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2018 HSST ngày 12 tháng 02 năm 2018, theo Quy t ịnh ưa vụ án ra x t xử số 73/2018/HSST- QĐ ngày 13 tháng 03 năm 2018 ối v i ị cáo: 1. Trần Văn V (tên gọi khác: H), sinh năm 1989 tại Tuyên Quang; Nơi ăng ký hộ kh u thường trú: Thôn T, xã V, huyện C, tỉnh T; Nơi ở: Kh ng nơi cố ịnh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình ộ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 256/2008/HSST ngày 29/7/2008 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” ( ã ược xóa án tích); Bắt tạm giam ngày 20/11/2017; Có mặt tại phiên tòa. 2. Dương Văn L (tên gọi khác: Q), sinh năm 1989 tại Tuyên Quang; Nơi ăng ký hộ kh u thường trú và nơi ở: Thôn T, xã V, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Tự do; Trình ộ văn hóa: 06 12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn D và bà Lê Thị C; Có vợ là Ma Thị Q; Tiền án, tiền sự: Kh ng; Bắt tạm giam ngày 20 11 2017. Ngày 30/01/2018 áp dụng iện pháp ngăn chặn cấm i khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: 1. Chị Trương Thị N, sinh năm 1993. HKTT: Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh K. Nơi ở: Số 2A, ngõ 951, ường G, phường G, quận H, Hà Nội - Vắng mặt. 2. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1982. HKTT: Bản Bang, xã M, huyện P, tỉnh S. Nơi ở: Số 2A. ngõ 951, ường G, phường G, quận H, Hà Nội - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn i n tại phiên tòa, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:

Trần Văn V ( tên thường gọi là H) có quen i t xã hội v i chị Hoàng Thị B ( tức M). Khi quen i t chị M, V gi i thiệu mình là c ng an. Vì vậy, khi chị Trương Thị N và chị Bùi Thị H có nhờ chị M tìm người làm giúp thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc thì chị M ã nhờ V ( tức H) làm hộ. Trần Văn V nhận lời, sau ó rủ Dương Văn L cùng tham gia. Ngày 11 11 2017, Trần Văn V có gặp chị M, chị Trương Thị N và Bùi Thị H tại quán cà phê Tim ( số 90 hồ Đền Lừ, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội), sau ó V gọi iện cho Dương Văn L n. V gi i thiệu L là c ng an làm tại cục C47- Bộ c ng an cùng v i V, là người có thể làm ược visa xuất cảnh sang Trung Quốc cho chị N và chị H. Do tin tưởng V và L có thể làm ược visa nên ngay tại quán cà phê này, chị N, chị H mỗi người ã giao 3.500.000 ồng ( do Lưu nhận) ể làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc v i thời gian từ a tháng n sáu tháng, thời gian làm visa là 05 ngày. Sau khi L nhận tiền giữa V và L kh ng có thỏa thuận trao ổi gì về việc ăn chia số tiền này. Ngày 15/11/2017, L và V gặp chị N, chị H và chị Hoa ( em chị H) tại khu vực ường Kim Đồng phường Giáp Bát quận Hoàng Mai Hà Nội, giữa Lưu và chị Nn, chị H có trao ổi về việc làm visa xuất kh u lao ộng sang Trung Quốc trong thời hạn 03 năm v i chi phí khoảng 30.000.000 ồng n 40.000.000 ồng. Lúc ó, chị Nn, chị H chưa có ý ki n gì. Sau ó, Dương Văn L i chơi cùng chị N, chị N tin tưởng L làm ược nên ã rút tiền tại cây ATM của ngân hàng Techcom ank ở tầng 1 tòa nhà KeengNam phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội ưa thêm cho Lưu 13.000.000 ồng ể L làm visa xuất kh u lao ộng sang Trung Quốc trong thời hạn 03 năm. Đ n tối ngày 15/11/2017, V n phòng trọ của chị H và N chơi thì ược i t chị N ã ưa thêm cho L 13.000.000 ồng. Thấy chị N, chị H dễ lừa nên ngày hôm sau 16/11/2017, V kh ng trao ổi gì v i Dương Văn L mà tự gọi iện nói chị H rút tiền và giấy tờ ở chỗ L về ể V làm visa giúp sang Trung Quốc làm việc 03 năm chỉ v i chi phí rẻ hơn chỉ h t 4.500.000 ồng. Chị H vẫn nghĩ V là công an nên ồng ý và ngay trong ngày 16 11 2017, chị H ã chuyển khoản cho V số tiền 1.5000.000 ồng qua số tài khoản 1410205134676 của ngân hàng n ng nghiệp và phát triển n ng th n mang tên chủ tài khoản là Phạm Thị Thanh N và 3.000.000 ồng qua số tài khoản 2608205125366 của ngân hàng n ng nghiệp và phát triển n ng th n mang tên chủ tài khoản là Hán Đức B theo yêu cầu của Trần Văn V. Ngày 18 11 2017, Dương Văn L n nơi ở của chị N, H tại số 2A ngõ 951 ường Giải Phóng, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội chơi, L nói v i chị H visa xuất cảnh sang Trung Quốc v i thời gian 3 năm của chị N sắp làm xong, chị H có làm không thì L giúp. Chị H ồng ý và ưa cho L thêm 12.000.000 ồng. Hai lần L nhận số tiền 13.000.000 ồng của chị N và 12.000.000 ồng của chị H, L kh ng àn ạc thỏa thuận gì v i Trần Văn V. Toàn ộ số tiền L nhận của chị N và Hà là 32.000.000 ồng, L ăn tiêu h t kh ng chia cho Trần Văn V. Việc Trần Văn V chi m oạt số tiền 4.500.000 ồng của chị H, V ăn tiêu h t, kh ng chia số tiền này cho L.

Sau khi nhận tiền của chị N, chị H thì Trần Văn V, Dương Văn L tắt máy, chặn các liên lạc khác v i chị N, chị H nên ngày 20/11/2017 hai chị ã trình áo cơ quan c ng an. Ngày 20 11 2017 Dương Văn L và Trần Văn V n C ng an phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội ầu thú. Cơ quan iều tra ã thu giữ của V 01 iện thoại VERTU màu vàng ỏ ã qua sử dụng, thu giữ của Lưu 01 iện thoại di ộng nhãn hiệu ITEL màu ỏ en ã qua sử dụng, 01 hộ chi u và chứng minh thư nhân dân mang tên Bùi Thu H, 01 hộ chi u và chứng minh thư nhân dân mang tên Trương Thị N. Trong quá trình iều tra, gia ình của Trần Văn V ã tự nguyện ồi thường trả cho chị Bùi Thị H số tiền 4.500.000 ồng. Gia ình của Dương Văn L ã ồi thường trả cho chị Trương Thị N số tiền 16.500.000 ồng; ồi thường trả chị Bùi Thị H số tiền 15.500.000 ồng. Chị Trương Thị N và Bùi Thị H ã nhận toàn ộ số tiền ị chi m oạt cùng các giấy tờ khác nên kh ng có yêu cầu ồi thường về dân sự và ề nghị cơ quan pháp luật xem x t giảm nhẹ hình phạt cho Trần Văn V và Dương Văn L. Trong quá trình iều tra xác ịnh chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Hán Đức B là chủ tài khoản cho V mượn ể nhận tiền từ chị Nguyễn Thị H kh ng i t về hành vi lừa ảo của V nên cơ quan iều tra kh ng xử lý.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 09/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội truy tố Trần Văn V và Dương Văn L về tội “Lừa ảo chi m oạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa ổi ổ sung năm 2009 (nay thuộc khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi ổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Văn V và Dương Văn L giữ nguyên lời khai tại cơ quan iều tra. Hai ị cáo xác nhận, do tin tưởng các ị cáo là c ng an theo lời gi i thiệu của các ị cáo và có thể làm ược visa xuất cảnh i Trung Quốc nên ngày 11/11/2017, chị N và chị H ã giao tiền cho các ị cáo, mỗi người ưa 3.500.000 ồng ( do L nhận) ể làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc.

Bị cáo Dương Văn L khai nhận: Sau ngày 11/11/2017, hai lần sau là ngày 15 11 2017 ị cáo lừa ể chi m oạt thêm của chị Ngoan 13.000.000 ồng và ngày 18 11 2017 lừa chi m oạt thêm của chị H số tiền 12.000.000 ồng ị cáo tự làm, kh ng àn ạc thỏa thuận gì v i Trần Văn V. Toàn ộ số tiền chi m oạt của hai chị, ị cáo ăn tiêu h t, kh ng chia gì cho Trần Văn V. Bị cáo Trần Văn V khai nhận: Ngoài hành vi cùng Dương Văn L lừa ảo chi m oạt số tiền 7.000.000 ồng của chị N, chị H vào ngày 11/11/2017, vào ngày 16 11 2017, ị cáo ti p tục có hành vi lừa dối chi m oạt số tiền 4.500.000 ồng của chị Bùi Thị H mà không có sự àn ạc thỏa thuận gì v i Dương Văn L.

Các bị cáo thừa nhận ản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai truy tố là úng v i hành vi ị cáo ã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai thực hành quyền c ng tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức ộ hành vi phạm tội của ị cáo ã xác ịnh: Hành vi phạm tội của Trần Văn V, Dương Văn L ã ủ y u tố cấu thành tội “Lừa ảo chi m oạt tài sản” ược quy ịnh tại 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa ổi ổ sung năm 2009 (nay thuộc khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi ổ sung năm 2017).Vì vậy, ại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai k t luận giữ nguyên quan iểm truy tố các ị cáo như nội dung ản cáo trạng.

Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các ị cáo nhiều lần chi m oạt tiền của các ị hại, thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, nay thuộc iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi ổ sung năm 2017).

Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình iều tra và tại phiên tòa, các ị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, gia ình các ị cáo ã tự nguyện ồi thường khắc phục hậu quả cho người ị hại nên các ị cáo ược hưởng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nay thuộc iểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi, ổ sung năm 2017. Bị cáo L phạm tội lần ầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên ược hưởng thêm tình ti t giảm nhẹ quy ịnh tại iểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra các ị cáo ầu thú, người ị hại có ề nghị giảm nhẹ hình phạt nên các ị cáo ược hưởng thêm tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nay thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi, ổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trần Văn V có 01 tiền án, mặc dù ã ược xóa án tích nhưng thể hiện ị cáo có nhân thân xấu.

Từ những phân tích nêu trên Đề nghị Hội ồng x t xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174, iểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi, ổ sung năm 2017;

- Xử phạt ị cáo Trần Văn V từ 18 tháng n 22 tháng tù.

- Xử phạt ị cáo Dương Văn L từ 18 tháng n 22 tháng tù.

- Về hình phạt ổ sung: Miễn phạt tiền ối v i các ị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Trương Thị N và Nguyễn Thị H ã nhận số tiền ị chi m oạt, kh ng có yêu cầu ồi thường về dân sự nên kh ng xét.

- Xử lý vật chứng: Chi c iện thoại VERTU màu vàng ỏ thu giữ của ị cáo Trần Văn Vin, ị cáo ã sử dụng liên lạc ể chi m oạt số tiền 4.500.000 ồng của chị Bùi Thị H nên tịch thu phát mại sung c ng quỹ nhà nư c. Đối v i 01 iện thoại di ộng nhãn hiệu ITEL màu ỏ en thu giữ của Dương Văn L kh ng liên quan n hành vi phạm tội nên trả lại cho ị cáo nhưng tạm giữ ể ảm ảo việc thi hành án.

Bị cáo Trần Văn V và Dương Văn L kh ng có tranh luận gì v i lời luận tội của ại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.

Lời nói sau cùng của hai ị cáo: Bị cáo Trần Văn V: Bị cáo i t hành vi lừa dối chị N, chị H ể chi m oạt tiền là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ân hận nên ề nghị ược xem x t giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo: Dương Văn L: Do suy nghĩ n ng nổi và cần tiền ăn tiêu nên ị cáo ã lừa chị N, chị H ể lấy tiền ăn tiêu. Bị cáo cũng rất ân hận. Gia ình ị cáo ã giúp ị cáo trả lại toàn ộ số tiền ã lấy của người ị hại. Đây là lần ầu ị cáo vi phạm pháp luật nên ị cáo ề nghị Hội ồng x t xử xem x t giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ồng x t xử nhận ịnh như sau:

. Về hành vi, quy t ịnh tố tụng của Cơ quan cảnh sát iều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình iều tra, truy tố ã ược thực hiện úng về th m quyền, trình tự, thủ tục ược quy ịnh trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình iều tra và tại phiên tòa các ị cáo Trần Văn V và Dương Văn L kh ng có ý ki n khi u nại về hành vi, quy t ịnh của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng; Do ó các hành vi, quy t ịnh tố tụng của các cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng ã thực hiện ều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của ị cáo: Lời khai của các ị cáo Trần Văn V và Dương Văn L tại phiên tòa v i lời khai của ị cáo tại cơ quan iều tra phù hợp nhau, phù hợp v i lời khai của người làm chứng, người ị hại cùng tang vật thu giữ của ị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có ủ cơ sở k t luận: Trần Văn V chỉ là c ng dân ình thường, kh ng có chức năng, nhiệm vụ làm thủ tục cấp visa nhưng khi chị Trương Thị N và chị Bùi Thị H nhờ làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc, ằng thủ oạn gian dối Trần Văn V gi i thiệu mình là c ng an ể tạo lòng tin ối v i hai chị. Sau ó Vin gi i thiệu Dương Văn L là ạn của V và cũng là c ng an và có thể làm ược visa xuất cảnh sang Trung Quốc cho chị N và chị H nhằm chi m oạt tiền của hai chị. Do tin tưởng V và L là c ng an làm tại cục C47- Bộ c ng an, có thể làm ược visa nên ngày 11 11 2017, chị N và chị H ã ưa cho Dương Văn L và Trần Văn V mỗi 3.500.000 ồng (do Lưu trực ti p nhận) ể làm Visa xuất cảnh sang Trung Quốc v i thời hạn từ 03 n 06 tháng nhưng thực t V và L kh ng làm ược. Đ n ngày 15 11 2017, Dương Văn L gặp chị N, chị H ti p tục nói dối về việc có thể làm ược visa xuất cảnh i Trung Quốc lao ộng trong thời hạn 03 năm nhưng chi phí cao hơn nên ngay trong ngày 15 11 2017 chị N ã ti p tục ưa cho Dương Văn L số tiền 13.000.000 ồng. Dương Văn L giấu kh ng cho Trần Văn V i t việc L nhận thêm tiền của chị N nhưng V vẫn i t th ng qua chị N, chị H. Thấy hai chị dễ lừa nên ngày 16 11 2017, Trần Văn V ã ề nghị làm thủ tục cấp visa cho chị H sang Trung Quốc lao ộng a năm v i chi phí chỉ có 4.500.000 ồng, rẻ hơn L làm. Do vẫn tin tưởng V là c ng an nên chị H ồng ý và ngay trong ngày 16 11 2017, chị H ã chuyển tiền cho V và V ã chi m oạt số tiền này dùng ể chi tiêu cá nhân h t. Lần chi m oạt tiền này của chị H, Trần Văn V không cho L i t và cũng kh ng ăn chia gì v i Dương Văn L. Ngày 18/11/2017, ể tạo thêm lòng tin cho chị H, Dương Văn L ã nói visa v i thời hạn lao ộng 03 năm của chị N sắp làm xong, chị H có làm thì L giúp, nên chị H ã ưa ti p cho Dương Văn L 12.000.000 ồng. Lần chi m oạt tiền này của chị H, L cũng kh ng àn ạc gì v i V. Tổng số tiền trong hai lần Dương Văn L nhận của chị N và chị H là 32.000.000 ồng, L ăn tiêu cá nhân h t kh ng ăn chia gì v i Trần Văn V.

Đối chi u v i quy ịnh của pháp luật, các ị cáo Trần Văn V và Dương Văn L ã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 09/02 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai ề nghị truy tố các ị cáo theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 nay thuộc khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi ổ sung năm 2017 là có căn cứ úng quy ịnh của pháp luật. Hành vi phạm tội của ị cáo Trần Văn V và Dương Văn L kh ng những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn xâm phạm n quyền sở hữu tài sản hợp pháp của c ng dân ược pháp luật ảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc ằng pháp luật hình sự.

. Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Văn L và Trần Văn V nhiều lần chi m oạt tiền của chị N, chị H nên phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy ịnh tại iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

. Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan iều tra ị cáo Trần Văn V và Dương Văn L ều khai áo thành kh n, tác ộng n người thân trong gia ình tự nguyện ồi thường khắc phục toàn ộ hậu quả cho người ị hại nên các ị cáo ược hưởng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm , s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi, ổ sung năm 2017. Bị cáo Dương Văn L phạm tội lần ầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên ược hưởng thêm tình ti t giảm nhẹ quy ịnh tại iểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi, ổ sung năm 2017. Sau khi phạm tội, cả hai ị cáo ra ầu thú, người ị hại có ề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các ị cáo nên ị cáo V và L ược hưởng tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi, ổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn L chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo Trần Văn V có 01 tiền án năm 2010 ã ược xóa án.

Về vai trò của các ị cáo trong vụ án: Vụ án có tính chất ồng phạm ơn giản, trong ó ị cáo Trần Văn V giữ vai trò khởi xư ng, còn ị cáo Dương Văn L là người thực hiện tích cực. Các ị cáo mặc dù kh ng có sự àn ạc về việc ăn chia số tiền n u chi m oạt ược của người ị hại nhưng ngày 11/11/2017 hai ị cáo ều có hành vi gian dối gi i thiệu mình là c ng an v i ể tạo niềm tin cho chị N, chị H v i mục ích chi m oạt tài sản của họ nên mặc dù ị cáo Lưu là người trực ti p nhận số tiền 7.000.000 ồng và ị cáo V không ược ăn chia số tiền này nhưng cả hai ị cáo ều phải chịu trách nhiệm cho hành vi phạm tội này v i vai trò ồng phạm. Những lần sau, khi ị cáo V chi m oạt thêm số tiền 4.500.000 ồng của chị H và ị cáo L chi m oạt thêm số tiền 13.000.000 ồng của chị N, 12.000.000 ồng của chị H thì các ị cáo lại thực hiện ộc lập, kh ng liên quan n nhau, kh ng àn ạc và cũng không cùng nhau ăn chia số tiền chi m oạt ược của các ị hại nên mỗi ị cáo chỉ phải chịu mức hình phạt tương xứng v i tính chất, mức ộ hành vi phạm tội của mình.

. Về quy t ịnh hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức ộ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, cùng các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng ị cáo, x t thấy cần phải xử phạt các ị cáo nghiêm khắc. Trong ó số tiền ị cáo L chi m oạt nhiều hơn ị cáo V nên mức hình phạt ối v i ị cáo L cao hơn ị cáo V. Cả hai ị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng ị cáo Trần Văn V có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù ã ược xóa án tích nhưng thể hiện ị cáo có nhân thân xấu, ã ược cơ quan pháp luật giáo dục nhưng kh ng lấy ó làm ài học rèn luyện tu dưỡng ản thân làm ăn lương thiện. Để có tiền ăn tiêu ất hợp pháp ị cáo ti p tục có hành vi chi m oạt tài sản của người khác, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần xử phạt ị cáo ằng hình phạt tù cách ly ị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất ịnh ể ị cáo có thời gian cải tạo, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành c ng dân có ích cho gia ình và xã hội. Bị cáo Dương Văn L có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, ị cáo có 01 tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng ị cáo lại có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong ó có 03 tình ti t giảm nhẹ quy ịnh tại khoản 1 iều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, ị cáo có nơi cư trú rõ ràng, x t thấy kh ng cần phải ắt ị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng khoản 1,2 iều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi, ổ sung năm 2017 cho ị cáo hưởng án treo và giao ị cáo cho chính quyền ịa phương nơi ị cáo cư trú ể giám sát, giáo dục cũng có thể gióp bÞ c¸o söa ch÷a nh÷ng lçi lÇm cña m×nh trë thµnh c«ng d©n cã Ých cho x· héi và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật ối v i người phạm tội có nhân thân tốt, phạm tội lần ầu, i t ăn năn, hối cải.

. Về hình phạt ổ sung: Các bị cáo kh ng có nghề nghiệp, kh ng có khả năng kinh t nên miễn hình phạt ổ sung là phạt tiền ối v i các ị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Người ị hại là chị Trương Thị N và Bùi Thị H ã nhận số tiền ị chi m oạt, kh ng có yêu cầu ồi thường về dân sự nên Hội ồng x t xử kh ng x t.

. Về xử lý tang vật: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Đối v i chi c iện thoại VERTU màu vàng ỏ thu giữ của Dương Văn L, qua xác minh kh ng liên quan n hành vi phạm tội nên trả lại cho ị cáo nhưng tạm giữ ể ảm ảo việc thi hành án. Đối v i chi c iện thoại di ộng nhãn hiệu ITEL màu ỏ en thu giữ của Trần Văn V, qua iều tra xác minh xác ịnh là phương tiện ị cáo dùng liên lạc trao ổi ể lừa ảo chi m oạt số tiền 4.500.000 ồng của chị Bùi Thị H nên cần tịch thu phát mại sung c ng quỹ Nhà nư c.

. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quy t số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016; Khoản 1 Mục I Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn V và Dương Văn L, mỗi ị cáo phải chịu 200.000 ồng án phí hình sự sơ th m.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người ị hại ược quyền kháng cáo ản án theo quy ịnh tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, iểm g khoản 1 iều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi ổ sung năm 2017 (Đối v i ị cáo Trần Văn Vin);

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; iểm , i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; iểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa ổi ổ sung năm 2017 (Đối v i ị cáo Dương Văn Lưu);

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Điều 23, Điều 26 Nghị quy t số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quy t (Đối v i cả hai ị cáo):

1. Xử phạt ị cáo Trần Văn V 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20 11 2017.

2. Xử phạt ị cáo Dương Văn L 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Giao ị cáo cho UBND xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời hạn thử thách của ản án.

Trường hợp ị cáo thay ổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hinh sự.

3. Về hình phạt ổ sung: Miễn phạt tiền ối v i các ị cáo.

4. Về trách nhiệm dân sự: Người ị hại ã ược nhận lại tài sản, không có yêu cầu ồi thường về dân sự nên Hội ồng x t xử kh ng x t.

5. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu phát mại sung c ng quỹ nhà nư c 01 chi c iện thoại di ộng nhãn hiệu ITEL màu ỏ en số IMEL 1: 354271082766220; số IMEL 2: 354271082766238 ã qua sử dụng thu giữ của ị cáo Trần Văn V.

- Trả lại cho ị cáo Dương Văn Lưu chi c iện thoại VERTU màu vàng ỏ số IMEL 1: 353800811886650, số IMEL 2: 353800811886668 ã qua sử dụng nhưng tạm giữ ể ảm ảo việc thi hành án (Hiện ang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo Phi u nhập vật chứng số 125/2018/ ngày 13/03/2018).

6. Về án phí: Bị cáo Trần Văn V, Dương Văn L mỗi ị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) ồng tiền án phí hình sự sơ th m.

7. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo ược quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người ị hại vắng mặt ược quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày ược tống ạt ản án.

Cỡ chữ