vanban.org

Bản án 74/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/11/2018. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2018/HS-ST
Ngày 16-11-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Nương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Lộc.

2. Ông Hoàng Đình Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Lam, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2018/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Phan Văn H, sinh năm 1985, tại tỉnh Tây Ninh;

Nơi cư trú: ấp Thành T, xã Thành L, huyện C T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Con ông Phan Văn S và bà Lưu Thị D; Có vợ Nguyễn Thị Thùy L; Con có 01 người sinh năm 2011;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 25/7/2018 bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết từ trước, khoảng 15 giờ ngày 15/7/2018, T (không rõ họ tên và địa chỉ, sống tại Campuchia) đến nhà và thuê H sang khu vực ấp Tàng Dù, xã Bố Mon, huyện Rùm Đua, tỉnh Svây Riêng, Campuchia vận chuyển thuốc lá điếu hiệu Hero về Việt Nam tiêu thụ. Mỗi lần vận chuyển T trả cho H tiền công là 100.000 đồng thì H đồng ý. Đến 02 giờ 30 phút ngày 16/7/2018, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda 67, biển số 70.691RK đi theo đường tỉnh lộ 781 từ ấp Thành T, xã Thành L, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh H về cửa khẩu Phước Tân, theo đường tiểu ngạch để sang Campuchia. H đến kho của T và được T giao 04 thùng thuốc lá hiệu Hero, bên trong mỗi thùng có 50 cây, mỗi cây có 10 bao, tổng cộng 2000 bao. H chất 04 thùng thuốc lá trên lên xe mô tô rồi vận chuyển về Việt Nam.

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 16/7/2018, tại khu vực ấp Thành Nam, xã Thành L, huyện Châu Thành. Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp với Công an xã Thành L tiến hành bắt quả tang Phan Văn H đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda 67, biển số 70.691RK chở 04 thùng giấy bên trong có 2000 bao (gói) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero. Khi phát hiện lực lượng Công an H chạy bộ trốn thoát, bỏ lại xe mô tô và 2000 bao thuốc lá điếu nhập lậu. Đến 08 giờ cùng ngày, H bị công an bắt và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ có bản thống kê kèm theo.

Về kê biên tài sản: Bị cáo không có tài sản.

Tại bản Cáo trạng số 68/QĐ/KSĐT ngày 14 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng có khả năng tự cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng chung cho xã hội.

Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao. Xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tên T và những người H giao thuốc lá điếu nhập lậu, do không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo thực hiện: Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 16/7/2018, tại khu vực ấp Thành N, xã Thành L, huyện Châu Thành. Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp với Công an xã Thành L tiến hành bắt quả tang Phan Văn H đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda 67, biển số 70.691RK chở 2000 bao (gói) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero từ Campuchia về Việt Nam giao lại cho người khác. Hành vi của bị cáo Phan Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

. Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Bị cáo H có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cũng có khả năng tự cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng chung cho xã hội.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xét thấy cần thiết áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự khi Hội đồng xét xử quyết định hình phạt cho bị cáo.

. Xét thấy tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Châu Thành phát biểu: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao. Xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hiệu honda 67, biển số 70-691RK, số khung CD60-1801329, của bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước,

Đối với 2000 bao (gói) thuốc lá nhập lậu hiệu Hero cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Trả lại cho bị cáo 01 diện thoại di động hiệu Nokia 220 có vỏ màu đỏ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phan Văn H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/11/2018.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án dân sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Trả cho bị cáo Phan Văn H: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 220 có vỏ màu đỏ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước:

- 01 xe mô tô hiệu honda 67, biển số 70-691RK, số khung CD60-1801329 của bị cáo Phan Văn H.

- 2000 bao (gói) thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân dự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ