vanban.org

Bản án 74/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quố…

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Văn T. Về con chung: Giao các con Trần Minh T, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Nhật M, sinh ngày 14/8/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng cho con. Anh Trần Văn T có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị N và anh T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quố…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74 /2018/ HNGĐ - ST
Ngày 26 /11/2018
"V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Khắc Tuyn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bẩy.

2. Bà Tô Thị Bích Hồng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tô Thị Thịnh – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 426/2018/TLST-HNGĐ ngày 11/9/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N.

Địa chỉ cư trú: Tổ N, khu C, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T.

Địa chỉ cư trú: Tổ N, khu C, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/8/2018, tại bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị và anh Trần Văn T tự nguyện kết hôn vào ngày 15/8/2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) M, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại tổ N, khu C, phường M, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Chị và anh T đã sống ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, hai người không tìm cách hàn gắn tình cảm. Mâu thuẫn vợ chồng cũng được gia đình hai bên động viên, hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị xác định tình cảm dành cho anh T không còn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị đề nghị được ly hôn anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T có hai con chung tên là Trần Minh T, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Nhật M, sinh ngày 14/8/2017. Vợ chồng ly hôn chị N nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N tự thỏa thuận với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo về các phiên họp, phiên hòa giải theo quy định, nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do.

* Chị Trần Thị P (là chị gái của anh T) có lời khai về quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị N giống như nội dung chị N đã trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng anh T, chị N phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, làm ăn, sinh hoạt nên thường xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Anh Tvà chị N hiện nay đã ly thân, không còn chung sống cùng nhau. Chị P thấy cuộc hôn nhân giữa anh T và chị N không có hạnh phúc, hai người không còn yêu thương nhau, nếu chị N yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định để chị N được ly hôn anh T. Về con chung, chị N và anh T có hai con chung như chị N đã trình bày. Hiện nay anh T đang nuôi cháu Trần Minh T nhưng thực tế thì anh T nhờ chị P nuôi dưỡng toàn bộ, anh T chỉ về thăm con, chơi với con chứ về kinh tế thì không có tiền để đưa cho chị P. Về tài sản chung, nợ chung của hai người chị P không nắm rõ.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn quá trình tham gia tố tụng đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Văn T Giao hai con chung Trần Minh T, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Nhật M, sinh ngày 14/8/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng cho con

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Thủ tục thụ lý, thẩm quyền giải quyết đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N và việc tiến hành các thủ tục tố tụng khác Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn T tự nguyện về chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật bảo vệ. Cuộc sống chung sau khi kết hôn diễn ra bình thường. Tuy nhiên, sau một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn, dẫn đến hai người sống ly thân từ đầu năm 2017 và không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã mở các phiên họp, phiên hòa giải để các bên có điều kiện gặp gỡ, thỏa thuận với nhau những vấn đề có tranh chấp. Anh T đã được thông báo về thời gian, địa điểm mở các phiên họp, phiên hòa giải nhưng đều vắng mặt, không có lý do. Như vậy có thể thấy anh T không còn mong muốn vợ chồng hòa giải, khắc phục những mâu thuẫn để trở về đoàn tụ.

Từ đó xác định: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn T không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên cần chấp nhận cho chị N được ly hôn anh T theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị N và anh T có hai chung tên là Trần Minh T, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Nhật M, sinh ngày 14/8/2017. Khi vợ chồng ly thân, chị N vẫn nuôi cả hai con chung, thời gian gần đây anh T đã đưa cháu T về nuôi. Tuy nhiên, thực tế anh T đưa con về nhờ chị gái nuôi hộ, chứ bản thân anh T cũng không trực tiếp nuôi dưỡng, quá trình giải quyết anh T cũng không có quan điểm cụ thể về việc nuôi dưỡng các con chung. Trong khi đó, chị N vẫn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho các con.

Do đó, cần căn cứ quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình để giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng cho các con.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chưa thành niên, nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện hoặc lợi ích của con chưa thành niên không được đảm bảo thì căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, các đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Văn T.

2. Về con chung: Giao các con Trần Minh T, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Nhật M, sinh ngày 14/8/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng cho con. Anh Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0003529 ngày 10/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều. Chị N đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ