- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn T tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74 /2017/HSST Ngày: 30/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"
"1. Ông Nguyễn Công Đức.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng.
Thư"ký"Tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Tứ"Kỳ"-"tỉnh"Hải"Dương"tham"gia"phiên" tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30/11/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2017/HSST ngày 06/11/2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1998; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm gian từ ngày 27/8/2017 đến nay (hiện"đang"bị"tạm"giam"tại"trại"tạm"giam"Công" an"tỉnh"Hải"Dương). Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 18 giờ ngày 27/8/2017, T đi nhờ xe của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) từ nhà ở thôn L, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương đến thôn Đ, xã Q, huyện Tứ Kỳ tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Khi đến thôn Đ, xã Q, T xuống xe đi bộ vào thôn Đ gặp một người đàn ông (không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể) và mua của người đàn ông này 01 gói giấy màu trắng, kích thước (1 x 2) cm bên trong chứa chất bột, dạng cục, màu trắng (là Heroine) với giá 100.000 đồng. T cầm gói ma túy vừa mua được trong tay phải đi bộ về nhà. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, khi T đang đi bộ tại trục đường 191B thuộc thôn Đ, xã Q, huyện Tứ Kỳ thì bị Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trên tay phải của T là 01 gói giấy màu trắng, kích thước (1 x 2) cm bên trong chứa chất bột, dạng cục, màu trắng; thu giữ tại túi quần đằng trước, bên phải T 02 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất.
1
Tại Kết luận giám định số 331/KLGĐ ngày 29/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột, dạng cục, màu trắng gửi đến giám định có trọng lượng 0,142 gam (không"phẩy"một"trăm"bốn"mươi"hai" gam) là Heroine.
Tại cáo trạng số 67/VKS - HS ngày 06/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 27/8/2017; hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,101 gam Heroine đựng trong phong bì kín do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại; 02 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất: Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
Căn"cứ"vào"các"chứng"cứ"và"tài"liệu"đã"được"thẩm"tra"tại"phiên"toà;"căn"cứ"vào" kết"quả"tranh"luận"tại"phiên"toà"trên"cơ"sở"xem"xét"đầy"đủ,"toàn"diện"chứng"cứ,"ý"kiến" của"Kiểm"sát"viên,"bị"cáo."
XÉT THẤY
Lêi khai cña bÞ c¸o t¹i phiªn toµ h«m nay, phï hîp víi chÝnh lêi khai cña bÞ c¸o trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra, phï hîp víi biªn b¶n b¾t ngêi ph¹m téi qu¶ tang, lêi khai ngêi lµm chøng, vËt chøng ®· thu gi÷ vµ c¸c tµi liÖu chøng cø kh¸c ®· thu thËp cã trong hå s¬ vô ¸n. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/8/2017, tại trục đường 191B thuộc thôn Đồng Tràng, xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ, Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,142 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu gi÷ vËt chøng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện tàng trữ trái phép 0,142 gam
2 Heroine để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối bị cáo trong vụ án thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị c¸o kh«ng ph¶i chÞu t×nh tiÕt t¨ng nÆng nào; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thì mới có tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 có mức hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS. Căn cứ khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, đây là quy định có lợi cho người phạm tội nên HĐXX sẽ áp dụng khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,101 gam Heroine do cơ quan giám định hoàn lại là vật nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu cho tiêu hủy; 02 bơm kim tiªm vµ 01 èng níc cÊt kh«ng cã gi¸ trÞ sö dông cÇn tÞch thu cho tiªu hñy; là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 41 của BLHS; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của BLTTHS.
Trong vụ án này, người đàn ông đã bán ma túy cho T, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật
"Vì"các"lẽ"trên,""
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười"hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 27/8/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của BLHS; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của BLTTHS. Tịch thu cho tiêu hủy 0,101 gam Heroine đựng trong phong bì kín do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại; 02 bơm
3 kim tiêm, 01 ống nước cất (Đặc"điểm"vật"chứng"theo"biên"bản"giao"nhận"vật"chứng" giữa"Cơ"quan"CSĐT"Công"an"huyện"Tứ"Kỳ"và"Chi"cục"thi"hành"án"dân"sự"huyện"Tứ" Kỳ"ngày"08/11/2017)."
3. Về án phí:"Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 99 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai"trăm"nghìn"đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ - Công an huyện Tứ Kỳ, - Chi cục T.H.A. DS huyện Tứ Kỳ, - Sở tư pháp Hải Dương, -Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Tú 4 |