vanban.org

Bản án 74/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thành T 12 (mƣời hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho chính quyền địa phương là UBND xã G D quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THÀNH T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số:74/2017/HSST
Ngày:18/7/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phƣớc Lộc

2. Ông Dƣơng Tấn Đấu

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng – kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2017 tại Toà án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:62/2017/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành T, sinh năm 1979

Tại: A M, Kiên Giang

Nơi ĐKNKTT: ấp 10 H, xã Đ H, huyện A M, tỉnh kiên Giang

Chỗ ở: ấp Ch V, xã G D, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang

Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: làm thuê

Con ông: Nguyễn Thành V

và bà: Trương Thị Ch

Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1979

Con: 02 người: lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo được tại ngoại

Bị cáo có mặt tại phiên toà

-Ngƣời bị hại: Nguyễn Thanh S, sinh năm 1968 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Chỗ ở: ấp H, xã C C, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thành T bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện P Q truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/02/2017, Nguyễn Thành T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda. Loại Wave, biển số 68H2-8432 đi đến công trình Casino thuộc ấp G D, xã G D, huyện P Q tính tiền công, nhưng bị thầu công trình hẹn lại buổi chiều. T đi ngang qua khu vực để máy, T thấy có một máy khoan, đục bê tông nhãn hiệu BOSCH, công suất 175W, model GSH 16-30, màu xanh của anh Nguyễn Thanh S không có ai trông coi, T lấy đi đem về nhà trọ tại ấp Ch V, xã G D cất giấu. Đến ngày 16/02/2017 Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tang vật thu giữ: 01 cái máy khoan đục bê tông nhãn hiệu Bosch, công suất 1750W (đã trả lại cho chủ sở hữu); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 68 H2-8432 số khung BY89344, số máy C43E-63356.

Tại bản kết luận về giá trị tài sản trong tố tụng hình sự số 12/KL-HĐĐG ngày 02/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện P Q, kết luận: 01 cái máy khoan, đục bê tông, nhãn hiệu Bosch, công suất 1750W có giá trị là 8.775.000đ.

Tại bản cáo trạng số: 71/KSĐT-KT ngày 18 tháng 5 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thành T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS; điểm h, b, p khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 33 xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX miễn xét.

Về tang vật: cái máy khoan đục bê tông nhãn hiệu Bosch, công suất 1750W (đã trả lại cho chủ sở hữu); đề nghị miễn xét; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 68 H2-8432 số khung BY89344, số máy C43E-63356 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của bị cáo và kiểm sát viên.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q truy tố.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm nhân dân huyện P Q truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo là một người đã trưởng thành nên có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng tham lam muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng mà không cần bỏ tiền ra mua nên bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của anh Nguyễn Thành S lén lút lấy trộm của anh S một máy khoan, đục bê tông nhãn hiệu BOSCH, công suất 175W, model GSH 16-30. Qua định giá tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị là 8.775.000đ.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân cần có một mức hình phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại trong thời gian không có máy khoan để sử dụng số tiền 15.000.000đ; bị cáo cũng mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân chưa có tiền án tiền sự gì, bị cáo cũng có nơi cư trú rõ ràng và người bị hại cũng có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, p, b khoản 1 và 2 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh S đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm, HĐXX miễn xét.

Về tang vật: đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 68 H2-8432 số khung BY89344, số máy C43E-63356 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS; điểm h, p, b khoản 1 và 2 Điều 46 BLHS; Điều 60 BLHS.

Xử phạt: Nguyễn Thành T 12 (mƣời hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về cho chính quyền địa phương là UBND xã G D quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

3. Về tang vật: áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 68 H2-8432 số khung BY89344, số máy C43E-63356 là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P Q theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2017)

4. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ