- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn của chị Tô Nữ Việt C. Anh Lê Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Tô Anh K, sinh ngày 19/12/2017 mỗi tháng 1.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 739/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24-6-2022 V/v: “ Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Thọ
2. Bà Trần Thị Phối
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 532/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022 về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Nữ Việt C, sinh năm 1996; cư trú tại: 13 Ngô Chi Lan, Bắc sông Hà Thanh, TP. Quy Nhơn, T. Bình Định (có mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1988; HKTT: thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, thị xã An Nhơn, T.Bình Định; Hiện cư trú tại: 33 Tôn Thất Bách, TP. Quy Nhơn, T.Bình Định. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-3-2022 và trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Tô Nữ Việt C trình bày: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 325/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định: chị và anh H thuận tình ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Tô Anh K, sinh ngày 19/12/2017. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu. Nhưng hiện nay do điều kiện kinh tế của chị khó khăn và cháu K bị bệnh chậm phát triển về trí tuệ nên cần chi phí để chữa bệnh và chăm sóc nên chị yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn mỗi tháng 5.000.000đ tính từ tháng 4/2022 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Tại phiên Tòa chị tự nguyện giảm mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu K xuống còn 3.000.000đồng/tháng. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn anh Lê Văn H trình bày: Anh thống nhất về thời gian thỏa thuận ly hôn cũng như việc nuôi con và chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung như chị C trình bày. Nay chị yêu cầu anh phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn mỗi tháng 5.000.000đ anh không đồng ý anh chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000đ vì thu nhập của anh bình quân mỗi tháng từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ nhưng anh còn phải trả chi phí cho cuộc sống và còn chăm sóc mẹ già đau ốm.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thờ i điểm xét xử sơ thẩm . Tại phiên tòa sơ thẩm , Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự còn bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
* Về quan điểm giải quyế t vu ̣ án : Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 107, 110, 116, 117, 119 Luật Hôn nhân gia đình 2014.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị C buộc anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lê Tô Anh K, sinh ngày 19/12/2017 mỗi tháng từ 1.000.000đ - 1.500.000đ kể từ tháng 4/2022 cho đến khi cháu K đử 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: 33 Tôn Thất Bách. Quy Nhơn, T. Bình Định. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn vắng mặt nên HĐXX căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Về nội dung:
- Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn của chị Tô Nữ Việt C. Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi chị C và anh H ly hôn cháu K sống cùng chị C nhưng trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là của cả cha và mẹ. Anh H không phải là người được giao trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K sau khi ly hôn nhưng anh phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung khi có yêu cầu. Hiện nay do điều kiện kinh tế của chị C khó khăn, cháu K bị bệnh chậm phát triển về trí tuệ cần chi phí để chữa bệnh và chăm sóc con nên chị yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 82, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình là có căn căn cứ nên được chấp nhận.
- Xét về mức yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung của chị C 3.000.000đ/tháng là hơi cao so với mức thu nhập thực tế hiện tại của anh H vì qua bảng xác nhận lương tại chi nhánh Công ty cổ phần SunTaxi tại Bình Định anh H có thu nhập bình quân khoảng 3.000.000đ/tháng, nhưng việc anh H chỉ chấp nhận mức cấp dưỡng 500.000đ/tháng là thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu và bảo đảm điều kiện tối thiểu cho việc nuôi dưỡng chăm sóc con trẻ. Để đảm bảo cuộc sống của người phải cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con cũng như lợi ích hợp pháp về mọi mặt của con và phù hợp với thực tế. Do đó HĐXX cần điều chỉnh mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh H là 1.500.000đ/tháng là phù hợp theo quy định tại các Điều 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình nên yêu cầu của chị C được chấp nhận một phần.
Về án phí HNGĐST: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, anh Lê Văn Hòa phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về quá trình giải quyết vụ án. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 82, Điều 107, 110, 116, 117, 119 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn của chị Tô Nữ Việt C. Anh Lê Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Tô Anh K, sinh ngày 19/12/2017 mỗi tháng 1.500.000đ tính từ tháng 4/2022 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
2. Về án phí HNGĐST: Anh Lê Văn H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND TP. Quy Nhơn; - Chi cục THADS TP. Quy Nhơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Lê Thị Ngọc Dung |