- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 735/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 24/5/2021. Về việc “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mạnh Đoan Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thực;
Ông Nguyễn Ngọc Hòa.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Danh Đời – Thư ký Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 24 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự thụ lý số 106/2021/TLST-HNGĐ
ngày 14/4/2021 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
2178/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/5/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Chen, Hsin – Yu, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Tầng 2, Số 10, ngõ Phúc Tinh, đường Sơn Oanh, quận Quy Sơn,
thành phố Đào Viên, Đài Loan, (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thanh M, sinh năm 1989.
Địa chỉ: 236/18 đường Trần Phú, Phường 9, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh,
(xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai ngày 02/3/2021, nguyên đơn
ông Chen, Hsin – Yu trình bày: Về quan hệ hôn nhân, ông Chen, Hsin – Yu và bà
Đỗ Thị Thanh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định
và được Ủy ban nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận
kết hôn số 81, ngày 05/6/2019. Sau khoảng thời gian chung sống ngắn ngủi, cuộc
sống vợ chồng càng về sau càng nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó ông đi nước ngoài định cư, từ đó hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Ông Chen, Hsin – Yu xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà M.
Về con chung: Ông Chen, Hsin – Yu và bà M không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông Chen, Hsin – Yu
và bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, ông Chen, Hsin – Yu đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo nội dung Bản tự khai ngày 06/5/2021, bị đơn bà Đỗ Thị Thanh M
trình bày: bà M xác nhận những lời trình bày của ông Chen, Hsin – Yu về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay ông Chen, Hsin – Yu yêu cầu ly hôn, bà đồng ý. Đồng thời, bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án không tổ chức hòa giải khi giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án:
Xét thấy, ông Chen, Hsin – Yu khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà M và ông
Chen, Hsin – Yu hiện đang cư trú tại Đài Loan nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án về hôn nhân gia đình là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên
vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét bản tự khai, Đơn xin vắng mặt, Giấy ủy quyền ngày 02/3/2021 của ông
Chen, Hsin – Yu đã được hợp pháp hóa lãnh sự của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải
quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không
tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại
khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Chen, Hsin – Yu, Hội đồng
xét xử xét thấy:
Qua lời trình bày của ông Chen, Hsin – Yu và bà Đỗ Thị Thanh M, có cơ sở
xác định: Ông Chen, Hsin – Yu và bà M có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận
kết hôn số 81 do Ủy ban nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày
05/6/2019, tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy
định nên quan hệ hôn nhân giữa ông Chen, Hsin – Yu và bà M là hôn nhân hợp
pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải
hòa, từ đó ông Chen, Hsin – Yu đã định cư ở nước ngoài. Do khoảng cách địa lý
nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết sâu đậm về tình
cảm vợ chồng. Hai bên đang sinh sống và làm việc ở hai nước khác nhau nên
không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay ông Chen,
Hsin – Yu yêu cầu được ly hôn với bà M, bà M cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng
xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Chen, Hsin – Yu và bà M.
- Về con chung: Ông Chen, Hsin – Yu và bà M không có con chung, nên
Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông Chen, Hsin – Yu
và bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng, nguyên đơn ông Chen, Hsin – Yu phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4
Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 55 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Chen,
Hsin – Yu, sinh năm 1969 và bà Đỗ Thị Thanh M, sinh năm 1989.
Giấy chứng nhận kết hôn số 81 do Ủy ban nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ
Chí Minh cấp ngày 05/6/2019 cho bà Đỗ Thị Thanh M và ông Chen, Hsin – Yu hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Ông Chen, Hsin – Yu và bà Đỗ Thị Thanh M không có
con chung.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng, ông Chen, Hsin – Yu chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông Chen, Hsin – Yu đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0093924 ngày 13/4/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Chen, Hsin – Yu đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Ông Chen, Hsin – Yu được quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bà Đỗ Thị Thanh M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân cấp cao tại TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM; - UBND Phường 9, Quận 5, TPHCM; - UBND Quận 5, TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án, (Đời-Trg), 17. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Mạnh Đoan Trang |